1. Tư vấn ly hôn, giành quyền nuôi con và mức cấp dưỡng ?

Xin chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi và chồng tôi chuẩn bị ly hôn. Chúng tôi có 2 con, 1 bé 5 tuổi, 1 bé 2 tuổi. Chồng tôi đi làm rất bận và không có thời gian cho con, tôi đi làm và chăm sóc dạy dỗ 2 con nên tôi muốn dành quyền nuôi 2 con. Nhưng hiện tại lương tháng của tôi chỉ khoảng 5 triệu sẽ không đủ để chi phí ăn học cho các cháu. Còn lương tháng của bố cháu khoảng 30 triệu.

Xin cho tôi hỏi trong trường hợp này theo quy định của pháp luật thì tôi có được quyền nuôi con không, và nếu tôi nuôi con thì mức cấp dưỡng trong trường hợp này là bao nhiêu tiền. Tôi xin cám ơn rất nhiều!

Người gửi: Đức

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Thứ nhất, về quyền nuôi con:

Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn, theo đó: "...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên, nếu hai vợ chồng bạn không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì đối với con 2 tuổi chị sẽ được ưu tiên giành quyền trực tiếp nuôi, còn đối với cháu 5 tuổi Tòa sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu để quyết định ai sẽ có quyền trực tiếp nuôi.

Thứ hai, về việc cấp dưỡng:

Pháp luật quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn. Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về mức cấp dưỡng, theo đó:

"1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết".

Như vậy, pháp luật không quy định cụ thể về mức cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn mà cho phép hai vợ chồng bạn tự thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con bạn. Nếu không thỏa thuận được thì các bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

>> Xem ngay: Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được quy định như thế nào ?

2. Tư vấn về cấp dưỡng cho con khi đồng thuận ly hôn ?

Thưa luật sư, Em và vợ chuẩn bị ly hôn, cả hai đều đồng thuận. Vợ em đòi nuôi con nhưng trong đơn đồng thuận cô ấy không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Vậy Tòa án có giải quyết đúng theo đơn đồng thuận ly hôn không? Mong luật sư tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn!
Người gửi: N.S

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin giải đáp như sau:

Trường hợp thuận tình ly hôn được quy định tại Điều 55, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Như thông tin bạn cung cấp, hai bạn thuận tình ly hôn, vợ bạn nhận nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn được pháp luật quy định khoản 1, Điều 81 và khoản 2 Điều 82, Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan...

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn...

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con..."

Cũng về vấn đề này, Điều 11, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn như sau:

"11. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn....

Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con..."

Như vậy, Tòa án sẽ xem xét theo đơn yêu cầu để công nhận ly hôn theo yêu cầu của hai bạn.

Ý kiến tư vấn trên đây dựa theo thông tin khách hàng cung cấp. Để được tư vấn chi tiết hơn, Quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số điện thoại 1900.1940 hoặc trực tiếp tại Văn phòng Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem ngay: Hỏi về việc ly hôn có phải bồi thường tuổi thanh xuân cho người vợ là bao nhiều tiền ?

3. Tư vấn việc đăng ký thay đổi mức tiền cấp dưỡng tiền nuôi con sau khi hai vợ chồng ly hôn ?

Thưa luật sư, Tôi có một câu hỏi mong luật sư giải thích và cho biết cách thức thực hiện. Tôi và vợ cũ của tôi ly hôn năm 2015. Theo thoả thuận cấp dưỡng giữa hai bên thì mỗi tháng tôi đóng tiền cấp dưỡng là 2,5 triệu trên tháng cho vợ cũ nuôi con và cho đến khi con 18 tuổi.

Nhưng nay tôi có gia đình mới và vợ tôi cũng chuẩn bị sinh em bé (tháng 9/2017), mặt khác, vợ cũ tôi cũng đã lập gia đình và cũng dự sinh em bé (tháng 11/2017).

Vậy tôi có thể làm thủ tục thay đổi mức cấp dưỡng hàng tháng không? Và mức cấp dưỡng được tính như thế nào? (lương công tác của tôi là 1,300,000 x 4,4 ; vợ tôi chưa có công việc ổn định, hai vợ chồng thuê nhà ở).

Cảm ơn Công ty luật Minh Khuê !

Luật sư tư vấn:

Thưa quý khách hàng ! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của bạn liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

“Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Theo Khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình thì không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng (có thể hiểu chi phí này phải là những chi phí hợp lý). Khi quyết định mức tiền cấp dưỡng, tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường thấp hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng. Trường hợp của bạn, thu nhập của bạn là 1.300.000 x 4,4= 5.720.000 VNĐ mà vợ bạn chưa có công việc ổn đình mà lại sắp sinh con cũng có thể coi là lý do chính đáng. Do vây, căn cứ theo Khoản 2 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình, bạn có thể thỏa thuận lại với vợ cũ của bạn về việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu hai bên không thỏa thuận được thì bạn có quyền nộp đơn ra Tòa yêu cầu Tòa án giải quyết về thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định tại Khoản 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

>> Xem thêm: Thủ tục giải quyết ly hôn và bồi thường tuổi thanh xuân ?

4. Chồng từ chối nhận con để trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn giải quyết thế nào ?

Vợ chồng tôi kết hôn được gần 04 năm, đã có một con chung 5 tuổi, nay chúng tôi đang làm thủ tục xin ly hôn; chồng tôi không thừa nhận cháu bé là con của mình vì cho rằng cháu bé sinh ra trước khi chúng tôi kết hôn nên từ chối việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Xin Luật sư cho tôi hỏi việc chồng tôi không thừa nhận con và không nhất trí cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn có được tòa án chấp nhận không?

Chồng từ chối nhận con để trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn giải quyết thế nào ?

Trả lời:

- Căn cứ theo điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

"Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

Căn cứ theo pháp luật hiện hành, con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp chồng chị không nhận cháu là con chung thì phải có chứng cứ (xét nghiệm ADN...) và phải được Tòa xác định.

- Căn cứ theo khoản 1 điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan."

Với quy định nói trên, sau khi ly hôn, nếu chồng chị không trực tiếp nuôi con phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; mức cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án khi giải quyết ly hôn. Việc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nếu không có lý do chính đáng (được tòa án xác định đứa trẻ không phải là con chung; không có thu nhập để cấp dưỡng…) thì sẽ không được tòa án chấp nhận

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

>> Xem ngay: Tư vấn ly hôn đơn phương, đòi quyền nuôi con và chia tài sản ?

5. Nhận cấp dưỡng khi ly hôn ở đâu ?

Chào luật sư Minh Khuê. Tôi ở Cần Thơ, chồng tôi ở Gò Công, Tiền Giang, có kết hôn, vì anh không có trách nhiệm nuôi con, bỏ con khi chưa ra đời… nên nay tôi muốn ly hôn. Nhưng anh ấy và tôi không cùng hộ khẩu, hay đi xa, ít về địa phương. Vậy tôi phải gửi đơn ở đâu để được giải quyết ? nếu tòa án ở đó giải quyết xong, tôi nhận cấp dưỡng ở đâu? Trong thời gian chung sống anh hay đi xa và đã sống như vợ chồng với nhiều phụ nữ khác, có lần tôi bắt gặp và yêu cầu công an ở cao lãnh lập biên bản (tháng 7/2014) nhưng anh không khắc phục. Đến nay anh đã sống và có con riêng với người khác. tệ hơn, gia đình anh cũng chấp nhận cho cô ta về ở trong nhà. Vậy vấn đề này tôi có thể nêu chung trong đơn lY hôn không hay làm đơn riêng ?
Chân thành cảm ơn luật sư.

Nhận cấp dưỡng khi ly hôn ở đâu ?

Trả lời:

1. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Như vậy khi ly hôn đơn phương bạn là người làm đơn, không có sự hợp tác đồng ý từ phía chồng, vậy bạn phải có đủ căn cứ chứng minh mâu thuẫn mới thì được tòa án giải quyết.

Thẩm quyền giải quyết của tòa án trong trường hợp này là tòa án nơi bị đơn là người chồng cư trú hoặc làm việc, cụ thể là tòa án ở Gò Công, Tiền Giang.

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định:

"Điều 35 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;

d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam..."

Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ :

"Điều 39.Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ:

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.."

Nếu vợ và chồng xin ly hôn thuận tình thì tòa án Huyện/quận nơi vợ hoặc chồng thảo thuận giải quyết đang sinh sống, cứ trú hoặc làm việc.

Cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Chồng bạn sẽ phải cấp dưỡng cho đến khi con bạn đã thành niên, nếu con bạn đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì chồng bạn vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Như vậy, nếu bạn và chồng có thể thỏa thuận được mức cấp dưỡng cho con thì Tòa sẽ chấp thuận mức cấp dưỡng mà hai vợ chồng đã thỏa thuận, nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được thì Tòa sẽ căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của chồng bạn và nhu cầu thiết yếu của con bạn để ra quyết định về mức cấp dưỡng sao cho phù hợp. Pháp luật không quy định nơi cấp dưỡng cụ thể, vậy nơi cấp dưỡng sẽ do hai vợ chồng thỏa thuận thực hiện.

Về hình thức xử phạt, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã không quy định trực tiếp biện pháp xử phạt đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên hành vi này được quy định chung tại điểm a khoản 3 Điều 52 Nghị định 110. Theo đó, hành vi “không thực hiện công việc phải làm… theo bản án, quyết định” của tòa án có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

>> Bài viết tham khảo thêm: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình

6. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con sẽ phải cấp dưỡng thế nào ?

Luật sư cho hỏi em đã li hôn từ năm 2012 chồng cũ lúc mới li hon vẫn cấp dưỡng nuôi con nhưng hơn 1 năm nay thì không cấp dưỡng nữa. em đã tai hôn vậy em muốn làm đơn yêu cau cấp dưỡng như thế nào ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Căn cứ vào điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng:

“1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.”

Theo quy định này, trường hợp chồng của chị không thực hiện việc cấp dưỡng cho con mà chị đang trực tiếp nuôi, chị có quyền yêu cầu Tòa án buộc người chồng cũ của chị thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Căn cứ theo điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Như vậy, chị có thể gửi đơn khởi kiện tới tòa án cấp quận/ huyện nơi chồng chị cư trú.Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, nếu trong hồ sơ có căn cứ chứng minh việc chồng chị không thực hiện việc cấp dưỡng và vụ việc thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án thụ lí và giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự.

Bài viết tham khảo thêm: Mẫu đơn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê