Trong phần tài sản chúng tôi có tài sản chung là một chiếc ô tô khách chúng tôi mua lại người có quan hệ họ hàng bên nhà vợ nên khi mua (từ năm 2010) đến nay chưa sang tên, bây giờ vợ tôi bảo đó là xe của anh em vợ tôi chứ không phải của vợ chồng tôi. Bây giờ tôi phải làm thế nào vì đó là tài sản lớn nhất của gia đình tôi lúc này? Và tôi làm thế nào để được ly hôn?

Mong nhận được sự tư vấn. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.D.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn ly hôn và chia tài sản trong trường hợp vợ không đồng ý ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân gia đình 2014

Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP

Bộ luật dân sự năm 2005

Thông tư 06/2009/TT-BCA(C11) quy định việc cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

2. Nội dung phân tích

2.1. Về việc giải quyết ly hôn

Điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Trường hợp của bạn, bạn có hai người con, một cháu 12 tuổi và một cháu 13 tháng tuổi nên bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Bạn muốn ly hôn nhưng vợ bạn không đồng ý, do vậy, bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên (điều 56 khoản 1 Luật hôn nhân gia đình 2014 )

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Về căn cứ cho ly hôn, pháp luật quy định tại mục 8 điểm a Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP như sau:

8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

...

2. Về việc giải quyết chia tài sản

Theo tình tiết mà bạn đưa ra, trường hợp của bạn đang có tranh chấp về việc xác định tài sản chung: Trong phần tài sản của vợ chồng bạn có tài sản chung là một chiếc ô tô khách mà vợ chồng bạn mua lại người có quan hệ họ hàng bên nhà vợ nên khi mua (từ năm 2010) đến nay chưa sang tên, bây giờ vợ bạn bảo đó là xe của anh em vợ bạn chứ không phải của vợ chồng bạn. Để giải quyết việc chia tài sản, bạn cần phải chứng minh được rằng: chiếc ô tô khách là tài sản chung của vợ chồng bạn; để chứng minh được điều này, bạn cần phải đưa ra được các chứng cứ xác thực như hợp đồng mua xe, nguồn gốc chiếc xe, người làm chứng,... chứng minh sự tồn tại hợp đồng mua bán xe giữa người anh em vợ bạn và vợ chồng bạn. Lưu ý rằng, trong trường hợp vợ bạn cho rằng chiếc xe là tài sản riêng của vợ bạn thì phải chứng minh được, nếu không chứng minh được là tài sản riêng thì chiếc xe được coi là tài sản chung.

Điều 33, điều 34 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.

Tuy nhiên, đối tượng mua bán trong giao dịch mua bán xe khách giữa anh em vợ bạn và vợ chồng bạn thuộc đối tượng cần phải đăng ký quyền sở hữu. Vợ chồng bạn mua xe từ năm 2010 nhưng đến bây giờ vẫn chưa sang tên đổi chủ, như vậy là vi phạm quy định của pháp luật và có thể bị xử phạt từ 100.000-200.000 đồng theo Nghị định 107/2014/NĐ-CP. Thông tư 06/2009/TT-BCA(C11) quy định: "Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có xác nhận của đơn vị công tác hoặc có chứng thực chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định." và "Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho, tặng, thừa kế xe, người mua hoặc nhận xe phải đến cơ quan đăng ký xe đang quản lý xe đó làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe."

Điều 428, điều 439 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về hợp đồng mua bán tài sản và thời điểm chuyển quyền sở hữu như sau:

Điều 428. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

Điều 439. Thời điểm chuyển quyền sở hữu    

1. Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó.

3. Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán.    

Như vậy, về nguyên tắc, chiếc xe chưa được chuyển quyền sở hữu sang cho vợ chồng bạn. Bạn cần phải thỏa thuận với người anh em vợ bạn sang tên đổi chủ; trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì bạn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự, bạn cần chứng minh sự tồn tại giao dịch mua bán xe giữa anh em vợ bạn và vợ chồng bạn để đảm bảo quyền lợi của bạn (chuyển quyền sở hữu chiếc xe hoặc đòi lại khoản tiền mua xe).

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê