Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Mục 2, phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành quy định:

"2.4. Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài

Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, nhưng người nước ngoài đã về nước mà không còn liên hệ với công dân Việt Nam, nay công dân Việt Nam xin ly hôn, thì Toà án thụ lý giải quyết.

Theo quy định tại Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì vợ chồng có nghĩa vụ chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc; do đó, nếu người nước ngoài bỏ về nước không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định, thời gian không có tin tức cho vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam từ một năm trở lên mà đương sự, thân nhân của họ và các cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước họ, các cơ quan có thẩm quyền mà người đó là công dân), sau khi đã điều tra xác minh địa chỉ của họ theo thủ tục xuất nhập cảnh, địa chỉ mà họ khai khi đăng ký kết hôn theo giấy đăng ký kết hôn... nhưng cũng không biết tin tức, địa chỉ của họ, thì được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và xử cho ly hôn."

Có thể bạn đã tham khảo quy định trên tuy nhiên trường hợp của bạn không phải là trường hợp "Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, nhưng người nước ngoài đã về nước mà không còn liên hệ với công dân Việt Nam" cho nên không thể áp dụng theo quy định này.

Bạn đã đăng ký kết hôn với công dân Đài Loan tại cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan vào năm 1995. Trong thư tư vấn bạn không nêu rõ rằng quan hệ hôn nhân của bạn có được công nhận tại Việt Nam hay không nhưng muốn được Tòa án Việt Nam giải quyết ly hôn, một trong các điều kiện bắt buộc là bạn  phải được Sở Tư pháp nơi bạn  cư trú cấp Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ hộ tịch việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. 

Khi đã được Sở Tư pháp cấp Giấy xác nhận về việc đã ghi chú việc kết hôn đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài, bạn có thể làm đơn gửi Tòa án nơi cư trú ở Việt Nam đề nghị giải quyết vụ án ly hôn.  Căn cứ Khoản 2 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và Khoản 1 Điều 27; Điểm a, Khoản 1 Điều 34; Điểm c, Khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2004  việc giải quyết vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê