Về phần con chung sau khi ly hôn em có được quyền đến thăm con và chở con về nhà nội chơi không. Về tài sản chung do vợ chồng mới cưới nên không có gì. Phần vàng cưới gia đình có cho gia đình bên vợ 2 cây vàng. Vậy nếu khi ly hôn thì phần tài sản đó có phải là tài sản chung và được phân chia như thế nào. Xin chân thành cám ơn

Người hỏi: LH Nam

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Hỏi đáp pháp luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Tư vấn thủ tục ly hôn và phân chia tài sản1900 6162

 

Trả lời:

1. Căn cứ pháp luật:

- Luật hôn nhân và gia đình 2000;

- Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất, về phần con chung sẽ được giải quyết như sau:

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2000:

“Điều 92. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

2. Vợ, chồng thỏa  thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa  thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa  thuận khác”.

Hướng dẫn tại  nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:

11. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92).

Khi áp dụng quy định tại Điều 92 cần chú ý một số điểm sau đây:

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

b. Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý.

c. Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

d. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai.

Về nguyên tắc, con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên không có thoả thuận khác”.

Theo đó, sau khi ly hôn cả vợ và chồng đều có nghĩa vụ phải trông nom, chăm sóc, giáo dục con,.. điều này được thực hiện cụ thể ra sao sẽ tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa hai người. Trong trường hợp nếu như anh và vợ không thỏa thuận được với nhau thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

Thứ hai, theo như dữ liệu anh cung cấp thì tôi hiểu được rằng 2 cây vàng này là vàng mà gia đình anh cho bên gia đình vợ anh khi anh kết hôn.

Vậy nên, căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2000:

“Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa  thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa  thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.

Theo đó, số tài sản 2 cây vàng này là tài sản do gia đình anh đã tặng cho gia đình của vợ anh khi anh chị kết hôn. Tài sản này sẽ thuộc quyền sở hữu của gia đình bên vợ anh chứ không phải là khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê