Hiện tại chi tôi cùng anh rể đã có 1 cháu trai hơn 1 năm tuổi. Do nhiều vấn đề mâu thuẫn trong gia đình nên chị tôi muốn li hôn và nuôi con một mình. Về vấn đề tài sản thì trước khi kết hônthì anh rể tôi đã có các tài sã riêng như nhà và đất. Hiện tại gia đình bên nhà anh rể tôi đang gây sức ép về thể xác và tinh thần để chị gái tôi phải bồng con ra đi mà ko chịu bất cứ trách nhiệm nào với hai mẹ con cô ấy cả. Họ đổ lỗi cho chị gái tôi làm anh rể thôi có vấn đề về thần kinh để chối bỏ trách nhiệm. Vậy các luật sư cho tôi xin hỏi về trường hợp này ,chúng tôi muốn ra tòa li hôn thì chị gái tôi phải làm những thủ tục như thế nào. Và quyền lợi của chị gái tôi và con trai chị ấy sau khi li hôn sẽ như thế nào? Anh rể tôi có bị buộc phải cho cấp cho con trai anh ấy hàng tháng không? Rất móng các luật sư giải đáp sớm ạ,

Tôi xin chân thành cảm ơn. Kính chúc quý công ty ngày càng lớn mạnh.

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hôn nhân của công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn thủ tục ly hôn và quyền, nghĩa vụ của vợ chồng sau ly hôn ?

>>Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhângọi1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Cơ sở pháp luật:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011

Nội dung phân tích:

Thứ nhất, đối với vấn đề bạn hỏi: chị gái bạn muốn ra tòa ly hôn thì phải làm những thủ tục như thế nào?

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

+   Đơn xin ly hôn

+   Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính).

+   Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải

trình bày rõ trong đơn.

+   Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

+   Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

+   Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

+   Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn.

Thời hạn xét xử: 

Từ 3 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. 

Thẩm quyền giải quyết việc ly hôn:

+   Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Toà án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình, gồm: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ; ranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Tranh chấp về cấp dưỡng; Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân...

+   Cụ thể, Toà án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm việc ly hôn là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi một trong các bên ly hôn cư trú, làm việc (Điều 33điểm h khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2011).

Trong trường hợp của chị đơn phương ly hôn thì chị phải gửi đơn xin ly hôn tại tòa án Quận/ huyện nơi chồng chị có hộ khẩu thường trú.

Thứ hai, bạn có hỏi: quyền lợi của chị gái tôi và con trai chị bạn sau khi ly hôn sẽ như thế nào? Anh rể bạn có bị buộc phải chu cấp cho con trai anh ấy hàng tháng không?

-Về vấn đề phân chia tài sản sau khi ly hôn của vợ chồng chị bạn: sẽ được giải quyết theo nguyên tắc được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2013:

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Như vậy về nguyên tắc việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ tùy thuộc vào thỏa thuận của hai bên vợ chồng, trong trường hợp không thỏa thuận được sẽ được chia đôi trên cơ sở có tính đến các yếu tố khác do pháp luật quy định.

-Vấn đề trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

 Mặt khác, tại Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn (Luật hôn nhân) quy định:

“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

“1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.

   Từ các điều luật nêu trên, con sẽ do chị bạn trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi chị bạn có đủ điều kiện. Sau khi ly hôn anh rể bạn vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, đồng thời phải tôn trọng quyền của con được sống chung với chị bạn, không được gây ảnh hưởng, hoặc cản trở khác, ngoài ra anh này còn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cho tới khi con của chị bạn đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Về nguyên tắc pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng vì vậy nếu khi ly hôn hoặc khi có tranh chấp về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn tòa án sẽ ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên. Nếu hai bên không thỏa thuận được thì tòa án sẽ quyết định mức cấp dưỡng sao cho hợp lý vừa đảm bảo được điều kiện của người cấp dưỡng vừa đảm bảo được quyền lợi của đứa trẻ. Khi quyết định mức tiền phải cấp dưỡng, Tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường không cao hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư  hôn nhân và gia đình.