Ngày 08/4/2015, Thẩm phán TAND huyện H thông báo về việc Thụ lý vụ án về việc Tranh chấp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Trong việc tranh chấp tài sản này có những nội dung sau:

Chúng tôi có 01 căn nhà 3 tầng diện tích xây dựng 81 mét vuông trong diện tích đất 125.3 mét vuông. Khoản nợ mà vay chưa trả là 303.100.000đ (khoản nợ này tôi vay để làm tầng 3, sơn nhà, vay của bố mẹ đẻ tôi nên không có giấy tờ vay nợ, tôi chỉ có giấy tờ của các nhà cung cấp vật liệu, xây dựng, làm cho tôi) khoản nợ nguyên đơn đưa ra là: 280.000.000đ (đây là khoản của chị gái nguyên đơn cho vay từ cuối năm 2009, vay không có giấy tờ của 2 vợ chồng ký, và nguyên đơn đi làm hàng tháng trả cho chị gái vào những năm 2010,2011,2012 và về đã công khai với tôi là trả xong nợ chị vào cuối năm 2012) Tôi là bị đơn trong vụ án này. Ngày 03 tháng 6 năm 2015 tôi nhận được thông báo về phiên hòa giải vào ngày 10 tháng 6 năm 2015. sau buổi hòa giải không thành này Thẩm phán yêu cầu bố mẹ tôi nộp án phí về khoản nợ và bố mẹ tôi đã nộp trong thời gian trước 15 ngày kể từ ngay sau khi buổi hòa giải. Chị gái nguyên đơn đến ngày 16 tháng 10 năm 2015 mới nộp. Xin Luật sư cho biết việc nộp phí của chị gái nguyên đơn đúng thời gian hay không? Khoản nợ 280.000.000đ đã trả rồi vậy bây giờ nguyên đơn lại bảo chưa trả và tôi đã nhờ Tòa án xác minh thu nhập của nguyên đơn trong những năm 2010, 2011, 2012 của nguyên đơn. Nhưng Thẩm phán nói tôi tự đi liên hệ để mang về nộp cho tòa. Xin Luật sư cho biết việc đi xin xác minh như vậy thuộc về nhiệm vụ của Tòa hay của tôi? Tại Tòa án C, tỉnh Q.

Nguyên đơn khai chúng tôi vẫn còn sở hữu 01 lô đất và đến khi về TAND huyện H, nguyên đơn khai với Tòa tôi tẩu tán tài sản trước khi ly hôn. (Về lô đất này: Tôi tự ý vay mượn tiền để đấu giá nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời rồi chuyển nhượng để thêm thu nhập, số tiền đấu giá đất này hoàn toàn vay mượn không có tiền chung của vợ chồng tôi đấu giá vào cuối năm 2012, đến tháng 6-2013 tôi đã chuyển nhượng cho người khác tại phòng Công chứng. và văn phòng Tài nguyên môi trường đã ghi vào trang 3 của sổ đỏ xác nhận đã chuyển nhượng. Thửa đất lúc đó tôi đấu giá và chỉ ghi tên tôi không có tên chồng. Hôm chuyển nhượng Phòng công chứng có yêu cầu chồng ra ký và lăn dấu vân tay vào hợp đồng chuyển nhượng thì chồng tôi có ra làm, vậy mà đến nay nguyên đơn yêu cầu Tòa xác minh chữ ký và dấu vân tay, và nguyên đơn gửi đơn tới UBND huyện yêu cầu thu hồi lô đất đó). Xin Luật sư cho biết việc nguyên đơn yêu cầu thu hồi đất xử lý như thế nào? Việc nói sai lệch giữa 2 Tòa như vậy có được không? Từ khi thụ lý vụ án ngày 8/4/2015 đến nay là 26/10/2015 đến nay là trên 6 tháng. và còn kéo dài đến thời gian nào thì mở phiên tòa?

Xin cám ơn Luật sư. Mong được sự quan tâm giúp đỡ giải đáp của luật sư

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn thủ tục phân chia giải quyết tranh chấp về tài sản khi ly hôn

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới bạn lời chào trân trọng và cảm ơn bạn đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 của Quốc hội

Bộ Luật Tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội​

Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội​

Nội dung tư vấn

Căn cứ vào tính chất vụ án, tranh chấp giữa 2 vợ chồng bạn và chị gái bạn là vụ án dân sự. Vậy căn cứ theo điều 26, Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án, thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm như sau:

"Điều 26. Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí."

Việc nộp án phí quá thời hạn 15 ngày của chị gái nguyên đơn là trái với quy định của pháp luật.

Về việc thu thập chứng cứ là nhiệm vụ của Tòa hay của bạn thi căn cứ theo điều 58, Luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định như sau:

Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của đương sự

1. Các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng.

2. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này;

b) Cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

c) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án;

d) Đề nghị Toà án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá;

đ) Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập;

...”

Vì vậy, bạn phải tự đi tìm chứng cứ chứng minh việc khoản nợ 280.000.000đ đã được trả rồi. Trong trường hợp chứng cứ của vụ án mà bạn không thể thực hiện được thì mới nhờ đến Tòa án.

Về việc nguyên đơn yêu cầu thu hồi đất, trước hết cần phải xác định việc thu hồi đất có phải do vi phạm pháp luật hay không và cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất căn cứ theo điều 64, Luật đất đai 2013 như sau:

"Điều 64. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

2. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Vì vậy, trừ khi có văn bản, quyết định của UBND huyện yêu cầu thu hồi đất thì đất của bạn mới bị thu hồi. Còn đơn yêu cầu thu hồi đất của chồng bạn trong trường hợp này bị vô hiệu.

Về thời điểm mở lại phiên tòa, căn cứ theo điều 208, Luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, thời hạn hoãn phiên toà và quyết định hoãn phiên toà được quy định như sau:

"Điều 208. Thời hạn hoãn phiên toà và quyết định hoãn phiên toà

1. Trong trường hợp Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà theo quy định tại khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 72, các điều 199, 204, 205, 206, 207, 215, khoản 4 Điều 230 và các trường hợp khác theo quy định của Bộ luật này, thì thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm là không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.

2. Quyết định hoãn phiên toà phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Toà án và họ, tên những người tiến hành tố tụng;

c) Vụ án được đưa ra xét xử;

d) Lý do của việc hoãn phiên toà;

đ) Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà.

3. Quyết định hoãn phiên toà phải được chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Toà án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

4. Trong trường hợp sau khi hoãn phiên toà mà Toà án không thể mở lại phiên toà đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên toà ghi trong quyết định hoãn phiên toà thì Toà án phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà.

Căn cứ theo luật này, tòa án phải có nghĩa vụ thông báo cho bạn thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa. Việc không thông báo rõ và kéo dài thời gian mở phiên tòa là sai theo quy định của pháp luật. Vì vậy bạn cần liên hệ với TAND có thẩm quyền cao hơn để được giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do bạn cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân.