Và cũng không có tin tức gì. Vậy giờ bạn tôi muốn ly hôn thì phải làm thế nào và ai có thể giúp bạn tôi? 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: MNB

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, đối với nội dung yêu cầu này, chúng tôi xin được trả lời như sau:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Bộ luật dân sự năm 2005;

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011;

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

-   Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

-   Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Đối với việc người chồng bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2010 đến nay, người vợ, với tư cách là người có quyền và lợi ích liên quan hoàn toàn có quyền yêu cầu tòa án tiến hành các thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt khi người này đã có 6 tháng biệt tích, đồng thời áp dụng các biện pháp quản lý tài sản của người này bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của những người liên quan theo Điều 74 Bộ luật dân sự 2005.

Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 về tuyên bố một người mất tích quy định như sau: “Khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự những vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”.

Như phân tích ở trên, chúng ta đã xác định được người chồng thuộc đối tượng người vắng mặt ở nơi cư trú và theo quy định của pháp luật dân sự thì có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích, khoản 2 Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về việc tuyên bố một người mất tích và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.

Xem xét quy định tại khoản 2 Điều 78 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 56 LHN&GĐ 2014 nêu trên, chúng ta thấy luật quy định “vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn”, tức là trường hợp này đã có quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có thẩm quyền rồi. Khi đó, việc ly hôn được tiến hành bởi 2 thủ tục: thủ tục yêu cầu tuyên bố người chồng/vợ mất tích; sau khi đã có quyết định tuyên bố một người mất tích của Tòa án mới tiến hành thủ tục ly hôn.

Thứ nhất, để người vợ có thể ly hôn được khi người chồng đã bỏ nhà đi từ năm 2010 đến nay phải thực hiện việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố người chồng mất tích trước:

  • Đơn yêu cầu tuyên bố mất tích phải có các nội dung sau đây:

+ Ngày, tháng, năm viết đơn;

+ Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết đơn;

+ Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

+ Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;

+ Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có;

+ Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu;

+ Người yêu cầu là cá nhân thì phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

  • Xác nhận của Công an khu vực nơi người mất tích cư trú cuối cùng.
  • Tài liệu chứng minh đã tìm kiếm người mất tích trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.
  • CMND, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng (bản sao có công chứng/chứng thực).
  • Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính, nếu không có bản chính thì xin cấp lại hoặc sao y bản chính tại UBND xã/phường/thị trấn nơi trước đã đăng ký kết hôn trước đây).
  • Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của các con chung.
  • Giấy tờ về tài sản như nhà đất, xe cộ, cổ phần, chứng khoán…

Hồ sơ này người vợ nộp tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người chồng cư trú, làm việc cuối cùng.

Thứ hai, nộp hồ sơ xin ly hôn:

Trường hợp này được xác định là đơn phương ly hôn, thủ tục đơn phương ly hôn được thực hiện như sau:

Hồ sơ chuẩn bị đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (theo mẫu của Tòa án nhân dân cấp huyện).

- Bản chính giấy chứng nhận đăng kí kết hôn của hai vợ chồng.

- Bản sao chứng thực giấy chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu của 2 vợ chồng.

- Bản sao chứng thực giấy khai sinh của 2 con.

- Bản sao chứng thực giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung của 2 vợ chồng: như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng kí xe,…

Khoản 3 Điều 73 BLTTDS, khi giải quyết vấn đề ly hôn, người vợ trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác tiến hành nộp đơn. Tuy nhiên, có mặt tại Tòa án và xét xử tại tòa thì người vợ phải trực tiếp có mặt, không được ủy quyền cho người khác “3. Người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự; đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng”.

Thẩm quyền giải quyết đơn phương ly hôn

Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi 2011 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, trường hợp đơn phương ly hôn, người vợ nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân quận /huyện nơi đã tuyên bố người chồng mất tích.

Thời hạn giải quyết đơn phương ly hôn:

Theo Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự được hướng dẫn tại Điều 14 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012, thời hạn chuẩn bị xét xử những tranh chấp về hôn nhân và gia đình là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 02 tháng. Như vậy, thời gian tối đa giải quyết vụ án đơn phương ly hôn là 06 tháng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, rất mong có thể giải đáp được thắc mắc của bạn.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ