Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi:    1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

2. Nội dung trả lời:

2.1. Việc bạn không đăng ký kết hôn và muốn ly hôn 

Do bạn không nói rõ 2 vợ chồng bạn sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn từ thời điểm nào nên bạn có thể tham khảo quy định sau đây về việc giải quyết ly hôn khi không có đăng ký kết hôn tại điểm a mục 3 nghị quyết 35/2000/QH10:

1.1/ Trường hợp hôn nhân thực tế:
Căn cứ pháp lý: Điểm a Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hôn nhân thực tế. Tuy nhiên, theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao thì hôn nhân thực tế phải đáp ứng được cả hai điều kiện về hình thức và nội dung.
+   Về hình thức: Hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà không đăng ký kết hôn.
 +   Về nội dung: Hai bên nam, nữ phải tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 1960 (trừ những trường hợp cán bộ miền nam tập kết ra Bắc trước giải phóng lấy tiếp vợ 2 đã có thông tư số 60 ngày 22.2.1978 của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn là: người chồng và hai người vợ có thể thoả thuận chung sống ổn thỏa, tức là toà án không phải huỷ hôn nhân lần thứ hai. Sẽ tiến hành huỷ hôn nhân trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai người vợ (giải quyết theo yêu cầu của vợ).
Như vậy, hôn nhân thực tế dù không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận. Chính vì thế mà việc ly hôn của những hôn nhân thực tế sẽ được giải quyết như vụ việc ly hôn có đăng ký kết hôn bình thường

1.2/ Trường hợp sống chung từ ngày 03 tháng 1 năm 1987 đến nay mà không có đăng ký kết hôn:
Căn cứ pháp lý: Điểm b và điểm c Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10
Nam và nữ chung sống với nhau từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm kề từ ngày Luật hôn nhân gia đình có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003, trong thời hạn này mà không có đăng ký kết hôn, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa sẽ thụ lý giải quyết theo Luật hôn nhân gia đình năm 2000 nhưng sẽ ra quyết định không công nhận là vợ chồng.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi nam và nữ sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng Khoản 2 và khoản 3 điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết ( nghĩa là yêu cầu về con và tài sản sẽ được Tòa án giải quyết như đối với trường hợp ly hôn thông thường.)

2.2. Về quyền nuôi con

" Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên thì vợ chồng bạn có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con nếu việc thỏa thuận này hợp lý thì Tòa án sẽ công nhận thỏa thuận đó. Nhưng do bạn không cung cấp con bạn hiện nay bao nhiêu tuổi nên:
-Nếu con bạn dưới 7 tuổi thì không cần xem xét nguyện vọng của con 
-Nếu con bạn từ đủ 7 tuổi trở lên thì sẽ phải xem xét nguyện vọng của con về người nuôi con trực tiếp sau khi bố mẹ ly hôn 
-Còn nếu như con bạn dưới 36 tháng tuổi thì đương nhiên bạn sẽ được hưởng quyền nuôi con trừ trường hợp bạn không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡnng, chăm sóc, giáo dục con 
3. Việc gia đình chồng bạn cấm không cho bạn dẫn con đi chơi, muốn bắt con bạn 
Gia đình chồng bạn làm như vậy là sai vì 2 vợ chồng bạn chưa hề ly hôn nên chưa hề có sự phân chia quyền nuôi con thuộc về ai và ngay cả khi có phân định quyền nuôi con cho chồng bạn đi chăng nữa thì bạn vẫn có quyền thăm con bạn (trong đó có quyền dẫn con bạn đi chơi) theo như quy định tại điều 83 khoản 2 luật hôn nhân và gia đình 2014:

" Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn...

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Như vậy, bạn nên căn cứ vào quy định trên cũng như điều kiện thực tế của mình để xem mình có được quyền nuôi con hay không.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi, hy vọng những giải đáp của chúng tôi sẽ giúp bạn giải đáp được phần nào thắc mắc!
Trân trọng./
Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê