Thỉnh thoảng anh có đưa được 2 triệu thì mấy hôm sau lại mượn tôi 5 triệu nhưng cũng không hoàn lại. Hơn 4 năm trời luôn tin tưởng anh ấy nhưng luôn bị anh ấy nói dối. Năm 2011 anh ấy nói mua nhà trả góp nhưng không thấy nhà đâu. Anh có vay mẹ đẻ tôi 300 triệu và 2 cây vàng nói để mua nhà trả góp và trả nợ vì đầu tư chứng khoán đến giờ chưa trả. Đến cái xe Wave bố đẻ tôi mua cho tôi cũng bị anh ấy đem đi cầm cố nhiều lần và tôi đều phải đi lấy về. Đầu năm 2015 thỉnh thoảng có người đến đòi nợ, hỏi anh ấy thì anh bảo chơi chứng khoán chưa trả nên họ đến nhà để gặp gia đình thôi. Tin anh ấy nhưng luôn bị anh ấy lừa dối. Giữa năm 2015 tôi phát hiện anh ấy nợ nần không phải do chứng khoán nhà đất gì mà do chơi cá độ bóng đá. Tôi có nói chuyện với gia đình anh ấy và bố mẹ cùng anh em anh ấy có đứng lên để trả bớt 1 số khoản nợ nần cua xã hội đen. Vì tôi làm công ăn lương để nuôi con nên cũng không dư giả gì. Cuối năm 2015, anh ấy lại 1 lần nữa lấy giấy tờ xe của tôi, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu của gia đình đi cầm cố được 20 triệu đồng. Lại 1 lần nữa bị anh ấy lừa dối. Tôi không thể chấp nhận sống chung cùng anh ấy nữa nên tôi quyết định ly hôn. Tôi có nói chuyện này với anh ấy và anh ấy đã đồng ý ly hôn. Nhưng anh ấy không ra mặt để ký đơn thuận tình ly hôn nên tôi đã gửi hồ sơ đơn phương ly hôn đến nay được hơn 1 tháng.

Tôi muốn hỏi Luật sư là: khi ly hôn số tiền anh ấy nợ, tôi có liên quan gì không? Tôi có phải chịu trách nhiệm gì trước pháp luật không? Tôi đã chuyển đi chỗ khác ở cùng 2 em ruột của tôi nhưng bọn xã hội đen cứ đến nhà 3 chị em tôi ở dọa dẫm và canh ở nhà khiến 3 chị em tôi không dám về nhà? Luật sư cho tôi xin lời khuyên về vấn đề này? Thủ tục đơn phương ly hôn của tôi sẽ được giải quyết như nào? Trong bao lâu tòa sẽ gọi 2 vợ chồng đến? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Luật hôn nhân và gia đình của Công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn Luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900 6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung 2011

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất: Về nợ của chồng sau khi vợ chồng bạn ly hôn

Theo quy định tại điều 60 Luật HN&GĐ 2014 thì khi ly hôn vợ, chồng có tranh chấp về nghĩa vụ của tài sản đối với người thứ 3 thì sẽ áp dụng quy định tại điều 27, 37 và 45 luật này:
 
"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết".
 
Theo quy định tại điều 37 luật HN&GĐ về nghĩa vụ chung của vợ chồng thì các nghĩa vụ sau đây sẽ dùng tài sản chung của cả hai để giải quyết:
 
"1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan".

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định tại điều 27 Luật HN&GĐ về trách nhiệm liên đới của vợ chồng:

"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này".
 
Trong trường hợp này, bạn không biết về việc chồng mình có vay tiền để làm ăn (nghĩa là không có sự thỏa thuận giữa 2 vợ chồng về việc vay nợ và sử dụng số tiền này) và việc vay tiền của chồng bạn cũng không phải là quan hệ đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 24, 25, 26 Luật HN&GĐ2014 nên tài sản chung của vợ chồng sẽ không được dùng để thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ theo quy định tại điều này và khi ly hôn bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ riêng của chồng bạn.

Ngoài ra, theo quy định tại điều 30 Luật HNGĐ nếu việc vay tiền của chồng bạn để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo nhận định của cơ quan Tòa án thì bạn cũng sẽ chịu trách nhiệm liên đới đới với khoản nợ này:

"Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình".

Nếu tài sản vay nợ đó không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bạn không phải chịu trách nhiệm với số tiền này.

Tuy nhiên, trong quá trình tranh chấp xảy ra tại Tòa án và nếu như chồng bạn chứng minh được rằng đã có thỏa thuận với bạn về việc vay tiền và bạn có liên quan tới việc sử dụng số tiền này để làm ăn thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ liên đới với chồng.

Thứ hai: Về việc dân xã hội đen cứ đến nhà ba chị em bạn dọa dẫm.

Theo quy định tại Điều 245, BLHS thì cụ thể như sau:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách;

b) Có tổ chức;

c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

d) Xúi giục người khác gây rối;

đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

e) Tái phạm nguy hiểm.”

Do vậy, xét trên mức độ nguy hiểm của hành vi đe dọa của xã hội đen thì bạn và các em bạn có thể trình báo với cơ quan công an để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn về tính mạng, sức khỏe cho gia đình cũng như mọi người dân nơi bạn sinh sống

Thứ ba: Về trường hơp bạn muốn làm thủ tục đơn phương ly hôn.

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:
- Đơn xin ly hôn;
- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;
- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng
- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng
- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…
- Bản sao giấy khai sinh của con.
- Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

Các bước thực hiện thủ tục ly hôn

Bước 1: Đương sự nộp hồ sơ về việc xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng nơi hoặc nơi cư trú của bị đơn (chồng hoặc vợ) đang cư trú, làm việc trong trường hợp đơn phương ly hôn.
Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.
Bước 3: Đương sự nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Bước 4: Thụ lý giải quyết:

Trong trường hợp đơn phương ly hôn: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.

Thời hạn xét xử: 
Từ 3 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. 
Thẩm quyền giải quyết:  

Tòa án nhân dân quận huyện nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, cư trú của vợ hoặc chồng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật Hôn nhân.