Hai mươi mấy năm rồi em chứng kiến ổng quậy mà em thấy khiếp sợ, đến nổi em đi làm xa có thứ 7 và chủ nhật được nghỉ mà e không dám về ở ban đêm luôn, sáng sớm chủ nhật em mới về chở mẹ đi bán quần áo ngoài chợ. Bà nội em thì hay bên vực con cái dù họ có làm sai đi nữa. Cha em quậy quạn như thế thì làm sao mà dạy con nên người được nên thằng em của em nó học lớp 10 mà nó hổn, nó đi chơi quá, nói không nghe, hỡ cái nó dụ bà nội là mua này kia, đóng này kia để cho bà nội kiếm tiền cho nó, bà nội em sợ nó bỏ nhà đi nên cũng nghe theo lời nó, rồi dặn mẹ em không được nói cho cha biết. Cứ thế mà diễn ra hoài. Cha em tính tình đã hỗn, quậy rồi mà giờ thêm thằng em em nó quậy nữa mà ổng biết bà nội binh như thế nữa nên ổng càng quậy hơn. Có lần ổng xỉn về ổng đánh thằng em của em khi đang ngủ, thằng em em nó tỉnh dậy tốc chạy. Rồi ổng quay qua bóp cổ bà nội em, cầm búa đòi đập đầu bà nội em, may mà cây búc bị xúc cáng, rồi nói với bà nội em "tôi giết bà trước rồi tôi giết nó sau". Mẹ em lại cản ổng đè mẹ em xuống cắn, thằng em của em nó trốn ngoài hè nó nghe ổng quậy quá trời nó chịu không nổi nó cầm cái cây nó chạy vào can, trong quá trình can ngăn nó lở tán ổng một cái nên ổng cầm dao rượt đâm thằng em em. nó tốc chạy. rồi mẹ em cũng chạy ra kêu công an ấp, xã nhưng công an ấp, xã đã nhiều lần khuyên cha em mà cha em không nghe nên giờ họ cũng làm ngơ. khi mẹ em chạy xe về ổng rình bên lộ và dựt xe lại làm mẹ em và đứa em 6 tuổi té, ổng đập lên vai mẹ em 1 cái, lúc đó ổng cầm dao nữa, thấy nhỏ em em nó khóc quá trời nên ổng đỡ vào nhà, còn nói với mẹ em "cho mày té chết mẹ mày luôn". rồi mẹ em qua nhà bác 4 xin rượu thuốc sứt khi về ổng còn rình mà lấy dao rượt mẹ em nữa. may mà mẹ em chạy thoát được. Qua hôm sau, ổng say rượu về ổng lấy dao dí vào cổ mẹ em hỏi thằng em của em ở đâu để ổng đi giết nó, may mà nó không ở nhà không thôi là bị giết chết rồi. Giờ thằng em của em nó đi ra nhà trọ nó ở rồi, nó ko còn muốn về cái gia đình này nữa. Cha em hâm nếu mẹ em ly dị với ổng thì mẹ em đi tới đâu ổng đi theo quậy tới đó, quậy luôn cả dòng họ luôn. Cứ tình trạng này không biết chết ngày nào luôn. Cha em cứ có rượu vô rồi là chuyện gì ổng cũng dám làm hết. Em tính bàn với mẹ dẫn mẹ và nhỏ em gái nhỏ đi lên rạch giá sống, giống như bỏ trốn vậy đó, không cho ổng biết chỗ nào, nếu ổng biết chắc ổng giết chết luôn quá.còn bà nội thì kêu mấy bác ra rước về. để cái nhà cho ổng sống 1 mình, ổng muốn bán thì bán.

Xin hỏi: Nếu lúc Ông quậy như thế mà điện công an vô bắt thì ông có bị ở tù không luật sư ?

Giờ Mẹ Em muốnl y hôn, mà Mẹ với Cha Em không có đăng ký kết hôn thì phải làm sao ?

Có cái nhà ở mà không có bằng khoán (sổ đỏ) gì cả, còn mấy đồ linh tinh thì đa số là Mẹ Em sắm. Còn nợ thì Mẹ Em có cái sổ nợ vay vốn sinh viên 35 triệu. Lúc trước người ta có cho vay vốn hộ nghèo mà người ta bắt buộ phải nhập vô cuốn sổ vay vốn sinh viên Mẹ Em đứng tên, Mẹ Em không chịu Cha Em uy hiếp nên Mẹ Em đành phải nghe theo, mà khi vay Mẹ còn nói thằng với người cho vay là nợ 25 triệu này là Ông ấy vay Chứ tôi không có động tới, có đòi thì đòi ổng. Nếu ly hôn thì số nợ này phải xử lý như thế nào ?

Con con chung thì Em sinh năm 1989, Thằng Em của Em sinh năm 1999, Nhỏ Em giái sinh năm 2009. Thì tòa án sẽ xử lý như thế nào?

Em mong luật sư tư vấn giúp Em giải quyết vướng mắc. Em xin cảm ơn luật sư rất nhiều!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân của công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về thủ tục ly hôn

Luật sư tư vấn hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cơ sở pháp luật

 

Bộ Luật Hình Sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

Bộ Luật Dân Sự 2005

Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014

Nghị quyết 35/2000/QH10 về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình

Nội dung tư vấn:

Về trách  nhiệm hình sự:

Chào bạn, dựa trên thông tin bạn cung cấp thì bố bạn cón những dấu hiệu vi phạm hình sự. Cụ thể:
- Theo quy định tại điều 103. Tội đe dọa giết người 
"1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Đối với nhiều người;
b) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
c) Đối với trẻ em;
d) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác"
+ Người bị coi là phạm tội là người có hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi này có thể là lời đe dọa với những hình thức khác nhau (qua điện thoại, thư từ…)hoặc có thể là những cử chỉ, việc làm cụ thể gián tiếp thể hiện sự đe dọa (như đi tìm công cụ, phương tiện…).
+ Hành vi đe dọa phải gây ra cho người bị đe dọa tâm lí lo sợ một cách có căn cứ là hành vi giết người sẽ xảy ra. Hành vi đe dọa giết người chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó đã làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

- Theo quy định tại điều 151 Bộ Luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình 
"Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm"

+ Nếu hậu quả gây ra chưa nghiêm trọng mà người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi này thì vẫn có thể cấu thành tội phạm

+ Hậu quả: thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe (21% trở lên) tinh thần, danh dự, nhân phẩm, tài sản (từ 50 triệu đồng trở lên) của người bị hại; gây dư luận cấu trong xã hội về văn hóa, đạo đức
Về vấn đề ly hôn

Tại mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH về thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau: 

"a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;
c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết"

Dựa trên những thông tin bạn cung cấp thì:

+ Trường hợp bố mẹ bạn có quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, khi bố mẹ bạn có yêu cầu ly hôn thì được tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về Ly hôn của Luật hôn nhân gia đình

+ Trường hợp bố mẹ bạn chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến nay mà không có giấy đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ chồng, trong trường hợp ly hôn tòa án thụ lý đơn và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.

Về vấn đề giải quyết số nợ

Trường hợp bố mẹ bạn được công nhận là vợ chồng thì theo quy định tại điều 37, Luật Hôn Nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, bố và mẹ bạn có nghĩa vụ liên đới trả số nợ này,

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình'"

Trường hợp tòa án không công nhận bố mẹ bạn là vợ chồng thì số nợ này mẹ bạn sẽ phải trả theo quy định tại điều 290 Bộ Luật Dân Sự 2005:

"Điều 290. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác."

Về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng

Thứ ba, về quyền nuôi con. Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. 
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. 
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

- Khi xem xét ai sẽ là người có quyền nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau với mục đích tìm được người có thể đáp ứng tối đa yêu cầu cho sự phát triển của đứa trẻ. Nhìn chung Tòa án sẽ dựa trên 3 yêu tố sau:

+ Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ; 

+ Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ. 

+ Nguyện vọng của con: Con mong muốn được ở với ai (chỉ áp dụng với con từ đủ 7 tuổi trở lên).

 - Bên cạnh đó về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ không trực tiếp nuôi con, Điều 82 có quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Theo đó:
"1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
 2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
 3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở"

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng ./.

Ban tư vấn pháp Luật hôn nhân.