Năm 2013 do làm vụng trộm nên em tôi chỉ mang chứng minh nhân dân và giấy chứng nhận độc thân (không có hộ khẩu thường trú, hay tạm vắng). Tôi có tham khảo các thủ tục cần thiết khi đăng ký kết hôn, thấy có nhắc đến giấy tờ hộ khẩu thường trú, tạm trú của cả nam và nữa.

Dựa vào thiếu sót giấy tờ này, tôi có thể coi đó là chưa đúng thủ tục kết hôn và tiến hành hủy giấy kết hôn của em gái tôi được không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!!

Người gửi: N.X.V

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn về việc hủy giấy đăng ký kết hôn trái pháp luật ?

Luật sư tư vấn hôn nhân gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Luật hôn nhân và gia đình 2014

- Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Nội dung trả lời:

Theo Khoản 6, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì: Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.

Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về điều kiện kết hôn như sau:

"1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính."

Mặt khác, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP có giải thích:

Khi giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật, Toà án cần chú ý:

- Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn, nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định; cụ thể là việc đăng ký kết hôn do cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thực hiện và việc đăng ký kết hôn phải theo đúng trình tự, thủ tục luật định.

- Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không phải do cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 9 thực hiện (ví dụ: việc đăng ký kết hôn giữa nam và nữ do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi không có bên nào kết hôn cư trú thực hiện), thì việc đăng ký kết hôn đó không có giá trị pháp lý; nếu có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, thì mặc dù có vi phạm một trong những điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8, Tòa án không tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật mà tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng vì việc kết hôn không có giá trị pháp lý.

- Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng trình tự, thủ tục luật định thì việc kết hôn đó không có giá trị pháp lý, nếu có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, thì mặc dù có vi phạm một trong các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 9, Toà án không tuyên bố huỷ kết hôn trái pháp luật mà tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

- Khi cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 10 có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật do có vi phạm điều kiện kết hôn. Đối với những trường hợp kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên chưa đến tuổi kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8. Tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp mà quyết định như sau:

+ Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà một bên hoặc cả hai bên vẫn chưa đến tuổi kết hôn thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

+ Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên tuy đã đến tuổi kết hôn, nhưng cuộc sống của họ trong thời gian đã qua không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

+ Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.

- Đối với những trường hợp kết hôn thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điểm a,b,c và d Khoản 2 Điều 5 thì ra quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 5 cần chú ý:

+ Nếu khi một người đang có vợ hoặc có chồng, nhưng tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mà đã kết hôn với người khác, thì lần kết hôn sau là thuộc trường hợp cấm kết hôn quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 5. Tuy nhiên, khi có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật họ đã ly hôn với vợ hoặc chồng của lần kết hôn trước, thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật đối với lần kết hôn sau. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.

Như vậy, theo như những gì bạn đã trình bày, có hai khả năng như sau:

Một là, hai bên đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chỉ vi phạm về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn.

Trong trường hợp này, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP thì Tòa án sẽ không tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật mà tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng vì việc kết hôn không có giá trị pháp lý.

Hai là, hai bên vừa không đủ điều kiện kết hôn vừa không tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.

Đối với trường hợp này, Tòa án sẽ ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật khi có yêu cầu.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình - Công ty luật MInh Khuê