Nội dung như sau: Mình 29 tuổi, Chồng 32 tuổi. Cưới nhau vào 11/01/2015, làm giấy ĐKKH vào 09/03/2015. Trước khi cưới, chồng nói Ba Má đã cho nhà, cưới xong sẽ ở căn nhà này(sát vách nhà Ba Má), khi cưới về đã làm Hộ khẩu căn nhà này gồm có Chồng - chủ hộ và vợ (là mình), được cấp vào 24/06/2015. Căn nhà này chưa có giấy sử dụng đất và nhà ở. Vậy khi ly hôn mình có được chia tài sản căn nhà này không. Vợ chồng không hợp nhau về rất nhiều thứ, cả 2 đã cố gắng nhưng không được và quyết định ly hôn. Hiện tại chồng kinh doanh tự do, mình nội trợ. Chồng đã có hơn 2 lần ngoại tình, đi khách sạn - mình phát hiện trên điện thoại (khi mình mượn điện thoại là có sự đồng ý của chồng, không phải theo dõi), chồng thề thốt không phải, mình dại nên không lưu lại chứng cứ, mình cố gắng xây đắp vì chỉ mới cưới nhau. Nhà chồng, bạn bè, người quen phía chồng mặc định mình là gái massage (mình có 2 bằng ĐH, thời điểm mới cưới mình là CEO - Công ty tư nhân) nhưng chồng không hề bảo vệ mình mà còn lơ đi kiểu ai nói mặc ai. Nhà chồng công kích mình là thứ vợ và con dâu chẳng ra sao, mặc dù tuần 2 lần mình đều qua nhà Má chồng chơi và quà cáp, đến tháng đưa tiền. Chồng cũng không bảo vệ mình. Chồng cấm không cho mình đi làm, kiểm tra công cụ liên lạc liên tục vì sợ mình ngoại tình. Hiện tại mình bị suy nhược tinh thần vì lý do từ chồng và phía nhà chồng như trên, ly hôn, thất nghiệp, không tiền. Nếu mình ly hôn thì chỉ có 2 bàn tay trắng, cuộc sống sẽ rất khó khăn sau ly hôn (mình chỉ có 1 chị gái cuộc sống bình thường không dư giả). Mình đọc luật thấy khi chia tài sản còn xét nhiều yếu tố, vậy có xét những yếu tố trên để chồng mình chấp nhận chia tài sản hoặc chu cấp không. Mình đang rất lo và bối rối. Mong luật sư tư vấn giúp mình để mình có thể tìm được luật sư đáng tin cậy thực hiện việc ly hôn. Chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân và gia đình của công ty luật Minh Khuê.


Tư vấn về việc phân chia tài sản khi ly hôn khi vợ không có nghề nghiệp?

Nội dung trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty luật Minh Khuê. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội

Nội dung phân tích:

Trong trường hợp này vợ chồng bạn quyết định ly hôn nên theo quy định tại điều 55 Luật HN&GĐ 2014 như sau:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn".

Việc phân chia tài sản được quy định như sau:

Tài sản chung của vợ chồng được hiểu là tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được tặng cho chung, thừa kế chung và những tài sản riêng và các bên là vợ và chồng thoả thuận là tài sản chung theo như điều 33 luật HN&GĐ 2014:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".

Theo quy định tại điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn sẽ được chia đôi có tính tới các yếu tố:

Điều 29 Luật HN&GĐ quy định về chế độ tài sản của vợ chồng như sau:

"Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

2. Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

3. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.

Theo đó, các công việc nội trợ, các việc lặt vặt không tên trong cuộc sống sinh hoạt gia đình hàng ngày, không phân biệt vợ hay chồng đều được xem như lao động tạo thu nhập. Như vậy, việc vợ ở nhà làm nội trợ cũng được coi như công sức đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng.

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Vì chồng bạn nói rằng căn nhà là bố mẹ chồng bạn cho hai vợ chồng và trong sổ hộ khẩu có ghi tên hai vợ chồng nên căn nhà được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Khi chia tài sản thì hai bạn có thể thỏa thuận về việc chia tài sản là căn nhà đó. Khi không thỏa thuận được thì tòa án sẽ xem xét việc phân chia căn nhà. Việc phân chia căn nhà ngoài việc thuộc vào nhiều yếu tố như theo khoản 2 điều 59 Luật hôn nhân gia đình còn phụ thuộc vào việc bạn chứng minh trước toà và toà sẽ xem xét xem bên nào nhiều chứng cứ để chứng minh là mình có công sức đóng góp nhiều hơn cũng như tài sản này là của riêng để xem xét và chia tài sản cho vợ chồng bạn theo những chứng cứ mà hai người đã trình bày trước toà. Và hiện tại việc bạn thất nghiệp cũng vì chồng bạn nên bạn phải bỏ nghề và ở nhà làm nội trợ, hơn nữa chồng bạn lại ngoại tình, gây áp lực khiến bạn suy nhược tinh thần nên nếu bạn chứng minh được điều đó thì đó sẽ là căn cứ để tòa giải quyết việc ly hôn và phân chia tài sản cho bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH