Năm 2004, họ có thêm một người con gái nữa là Nguyễn Anh Thư, Thư có biểu hiện của trẻ thiểu năng trí tuệ nhưng chưa có xác nhận cụ thể của cơ quan y tế, hiện đang học lớp 3. Trong quá trình chung sống, ông Quang thường xuyên bạo hành bà Vân, không thể hiện trách nhiệm làm cha. Hai bên từng chấm dứt nhưng không thành do bà Vân thương con sinh thiếu tháng yếu (anh Quỳnh) nên hi sinh ở lại. Năm 2006, ông Quang và bà Vân chấm dứt hẳn do ông Quang ngoại tình, bé Thư mới được 2 tuổi. Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ ra quyết định cho hai bên chấm dứt, tài sản tự thỏa thuận: 
- Tổng tài sản bao gồm: 
+ Một căn nhà cấp 4 diện tích 300 m2
+ 4.200 m2 đất thổ cư
+ 18.500 m2 đất canh tác
- Cách thức phân chia tài sản:
+ Ông Quang sở hữu: 2.000 m2 đất thổ cư; 13.000 m2 đất canh tác
+ Bà Vân sở hữu: căn nhà cấp 4 diện tích 300 m2 và 700 m2 đất thổ cư; 5.500 m2 đất canh tác
+ Chị Thắm: Ông Quang, bà Vân thỏa thuận bằng văn bản đồng ý chia 1.500 m2 đất thổ cư cho chị, nhưng đến nay ông Quang vẫn chưa ký kết chuyển giao cho chị.
- Các khoản nợ chia theo tỉ lệ: 1:1
- Trách nhiệm:
+ Ông Quang có trách nhiệm chi trả sinh hoạt phí cho bé Thư: 300.000 VNĐ/1 tháng (đến đủ 18 tuổi)
+ Bà Vân chịu trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng anh Quỳnh và bé Thư
- Quá trình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ:
+ Từ ngày phán quyết của Tòa án có hiệu lực, bà Vân vẫn đơn thân nuôi hai con ăn học mà không nhận được sự hỗ trợ như đã cam kết từ ông Quang.
+ Số tài sản của ông Quang giao cho chị Thắm quản lý. Lúc này chị Thắm đã có gia đình, đám cưới được tổ chức dưới sự hộ trợ của bà Vân
+  Năm 2010 đến này, dưới áp lực từ phía bà Vân do chi phí sinh hoạt, học tập ngày càng tăng, ông Quang đồng ý giao số tài sản chị Thắm quản lý cho bà Vân canh tác, lấy hoa lợi trang trải chi phí ( thỏa thuận không mang tính pháp lý)
- Tôi muốn biết:
1.    Sự việc có còn thời hạn khiếu kiện hay không? Nếu còn hiệu lực là trong bao lâu? Có thể khởi kiện trên những hành vi cụ thể nào? Và cách thức tiến hành ra sao?Dựa trên những quy chuẩn nào?
2.    Nếu ông Quang bán đất, cho tặng, cầm cố, thế chấp tài sản phần tài sản của ông hoặc sang tên phần tài sản đã cho chị Thắm. Anh có thể khiếu kiện đòi phân chia tài sản, lợi ích hoặc vô hiệu hóa các hoạt động trên không? Nếu có, cách thức tiến hành cụ thể ra sao?Theo điều luật nào?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nam

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi:    1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn Quý khách đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Chúng tôi sau khi nghiên cứu kỹ câu hỏi do còn thiếu một số dữ liệu pháp lý, đội ngũ luật sư đã gửi Email để yêu cầu bổ sung nhưng chúng tôi không nhận được phải hồi nên chúng tôi chỉ có thể đưa ra những nguyên tắc căn bản về việc phân chia tài sản trong thời ký hôn nhân. Nếu chưa rõ nội dung nào vui lòng trao đổi trực tiếp để được hướng dẫn cụ thể hơn về trường hợp riêng biệt này:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật hôn nhân gia đình năm 2000

- Luật hôn nhân gia đình năm 2014

- Bộ luật dân sự năm 2005

- Bộ luật dân sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

 

Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Cụ thể: Vợ chồng có trách nhiệm liên đới trong các trường hợp sau:

-  Giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

- Các giao dịch phù hợp về đại diện theo quy định của pháp luật

- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

Theo các quy định đó, sau khi ly hôn, anh, chị không còn là vợ chồng của nhau nữa nhưng những tài sản mà anh, chị yêu cầu tòa án giải quyết và kể cả các khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được hiểu là tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Ngoài ra, theo Điều 60 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba sau lý hôn:

"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết."

Theo quy định tại điều 47, 48 Luật HN&GĐ năm 2014:

"Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 48. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

d) Nội dung khác có liên quan.

2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định."

Do vậy, trong trường hợp này anh chị khi thỏa thuận về chế độ tài sản giữa hai vợ chồng thì trước khi kết hôn, việc thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và phải có công chứng, chứng thực. Và thỏa thuận này có thể bị tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại khoản 1 điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014 do vi phạm quy định về hình thức của thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng:

"Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;"

Theo khoản 2 điều 122 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hình thức của giao dịch dân sự:

"2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."

Theo quy định tại điều 7 Nghị định 126/2014/NĐ-CP:
"Điều 7. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình."

Do đó, trong trường hợp này, việc mua mua sắm và phần ngôi nhà anh sửa khi hai vợ chồng chung sống với nhau được coi là tài sản chung và sẽ áp dụng theo chế độ đối với tài sản chung theo điều 33 Luật HN&GĐ:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 59 Luật HN&GĐ về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch."

Trong câu hỏi trên muốn giải quyết được tranh chấp pháp sinh thì phải giải quyết được vấn đề nguồn gốc hình thành tài sản thì mới có thể phân chia, giải quyết cụ thể. Các bên có thể chứng minh nguồn gốc hình thành tài sản để xác minh tài sản nào là riêng/Chung. Thực tiễn cho thấy rằng đây là một vấn đề không hề đơn giản và dễ dàng. Chúng tôi đưa ra những nguyên tắc pháp lý cơ bản để các bên tham khảo và vận dụng. Không thể đưa ra kết luận một chiều khi chưa có đầy đủ thông tin chính xác.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê