Gần đây nhất là chuyện mẹ chồng muốn tôi viết giấy xác nhận là bà đã chạy tiền lo việc cho tôi và bắt tôi phải viết giấy biên nhận tài chính nội dung cụ thể như sau: "Khi về nhà chồng, do công việc của tôi vẫn còn đang phải ký hợp đồng nên gia đình nhà chồng quyết định lo giúp tôi khoản tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn) để lo chạy viên chức cho tôi. Tôi cùng chồng là anh Lê Văn B đã đến nhà ông Nguyễn Văn A (Hiện đang phụ trách mảng tôi làm) đưa số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn) cho ông A vào ngày 25 Tết 2015 Âm lịch".

Trong giấy biên nhận có ghi rõ ngày là 4/5/2015 làm đơn, người viết đơn là tôi, người xác nhận là chồng tôi và người làm chứng là mẹ chồng tôi. Cuộc sống không như ý, mẹ chồng hay mang giấy tờ ra nói dọa dẫm là nếu làm rùm beng là tôi sẽ mất việc, mất gia đình. Cuộc sống gia đình lúc nào cũng căng thẳng.

Nay tôi muốn hỏi quý công ty, nếu tôi ly hôn thì:

1. Khoản tiền gia đình nhà chồng lo cho tôi trước đó tôi có phải hoàn trả không và với số tiền là bao nhiêu ? Thời gian phải trả tiền có phải ngay một lúc hay có thể giới hạn thời gian do tòa quyết định ?

2. Nếu giấy cam kết này được đưa ra tòa thì công việc của tôi có bị ảnh hưởng không? Và người đã nhận tiền lo giúp tôi có bị liên lụy gì không ?

3. Trong giấy tôi có ghi và chỉ có 3 người trong gia đình tôi ký nhận thì mức độ phải chịu trách nhiệm của tôi khi ly hôn là như thế nào ? Hiện nay căng thẳng gia đình tôi đã lên đến đỉnh điểm. Tôi gặp khó khăn với mức lương 2.000.000đồng / Tháng.

Tôi chân thành mong quý công ty hồi đáp, tư vấn giúp tôi vượt qua khó khăn hiện nay. Tôi chân thành cảm ơn quý công ty đã tạo ra môi trường giúp cho những người còn chưa hiểu biết về luật như tôi không mắc những sai sót do không hiểu luật.

Người gửi: N.Q.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Kính chào bạn N.Q.N, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

1. Về mặt pháp luật, việc bạn có phải hoàn trả số tiền mà gia đình nhà chồng của bạn lo cho bạn sau khi bạn kết hôn hay không phải được xác định trên cơ sở có giấy tờ hay hợp đồng vay mượn hay không.

- Nếu như có hợp đồng hoặc giấy tờ thể hiện sự vay mượn, tức là có cơ sở chứng minh việc vay mượn, thì bạn có nghĩa vụ phải trả số tiền đó.

- Nếu như không có hợp đồng hoặc giấy tờ thể hiện sự vay mượn, tức là không có cơ sở cho thấy có mối quan hệ vay mượn, thì bạn không có nghĩa vụ phải trả số tiền đó. 

Như thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, có cho thấy, mẹ chồng của bạn buộc bạn phải viết giấy xác nhận là bà đã lo tiền chạy việc cho bạn, tuy nhiên để xác định có hay không nghĩa vụ trả tiền cần lưu ý:

Một là, giấy xác nhận có phải là giấy vay nợ hay không?

Hai là, trong giấy xác nhận có thể hiện nội dung vay - trả hay không?

Nếu như trong giấy xác nhận của bạn chỉ có nội dung như bạn cung cấp cho chúng tôi, đó là: "Khi về nhà chồng, do công việc của tôi vẫn còn đang phải ký hợp đồng nên gia đình nhà chồng quyết định lo giúp tôi khoản tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn) để lo chạy viên chức cho tôi. Tôi cùng chồng là anh Lê Văn B đã đến nhà ông Nguyễn Văn A (Hiện đang phụ trách mảng tôi làm) đưa số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn) cho ông A vào ngày 25 Tết 2015 Âm lịch", thì sẽ không có căn cứ pháp lý cho việc bạn có nghĩa vụ trả tiền.

Tuy nhiên, cũng phải đưa ra một giả thiết để trả lời cho câu hỏi thứ hai của bạn. Trong trường hợp Tòa án xác định bạn phải trả số tiền đó cho mẹ chồng của bạn thì thời gian trả tiền trước hết do các bên thỏa thuận với nhau, nếu không thỏa thuận được thì sẽ do Tòa án xác đinh. Tòa án sẽ dựa trên căn cứ là tổng thu nhập của bạn, hoặc cũng có thể dựa trên khối lượng tài sản riêng của bạn để xác đinh.

2. Trong vụ việc của bạn, nếu giấy cam kết của bạn được đưa ra trước Tòa án vô hình chung đã trở thành Đơn tố cáo hành vi phạm tội, đó là hành vi đưa hối lộ và hành vi nhận hối lộ được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2009. 

Điều 289 BLHS về tội đưa hối lộ quy định:  

"1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng".

Điều 279 BLHS về tội nhận hối lộ quy định:

"1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

e ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng".

Đối với hành vi phạm tội được quy định trong BLHS thì cả người đưa hối lộ và người nhận hối lộ đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Từ đó có thể thấy, việc giấy cam kết được đưa ra trước Tòa án sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến bạn và người nhận tiền của bạn.

3. Về mức độ phải chịu trách nhiệm của bạn đối với số tiền này khi ly hôn - chúng tôi sẽ chỉ đưa ra ý kiến tư vấn dựa về mặt pháp luật.

Theo như phân tích trong phần 1 thì chúng ta có 2 trường hợp:

- Trường hợp 1, bạn không phải trả số tiền này.

- Trường hợp 2, bạn có nghĩa vụ trả số tiền này. 

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ chung của vợ chồng như sau:

"Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan".

Lý do để chúng tôi đưa ra quy định trên là vì khoản tiền này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bạn, tuy nhiên, xét theo 5 trường hợp của điều luật kể trên thì khoản tiền này không được coi là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Do đó, bạn phải thực hiện nghĩa vụ này một mình, hay nói cách khác, đây là nghĩa vụ riêng của bạn, bạn phải chịu 100% trách nhiệm đối với khoản nợ này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, mong rằng có thể giải đáp được thắc mắc của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê