1. Tư vấn việc giành lại quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Mình có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Vợ chồng mình đã ly hôn cách đây 5 năm. Khi ly hôn mình sợ gia đình nhà chồng hành hung nên đã cho chồng quyền nuôi con. Bây giờ anh ấy đã lấy vợ và có con.

Anh ấy không nuôi con mà để cho bố anh ấy nuôi. Bây giờ mình muốn giành lại quyền nuôi con thì cần phải làm gì ?

Mình xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.T.T.T

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn và giành quyền nuôi con, gọi:1900.1940

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Luật hôn nhân và gia đình 2014

- Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

2. Nội dung trả lời:

Theo như bạn trình bày thì Tòa án đã xử ly hôn và giao con cho chồng bạn nuôi con và bản án đã có hiệu lực pháp luật nên để bạn đòi quyền nuôi con từ chồng bạn, bạn phải khởi kiện một vụ án mới.

Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn:

"1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Vì vậy, để có thể được giành quyền nuôi con, bạn cần có chứng cứ chứng minh chồng bạn không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con (về sức khỏe, học tập, tinh thần...) và bạn có đủ điều kiện để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho con hơn chồng bạn thì Tòa sẽ căn cứ vào đó xem xét để ra phán quyết.

Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Nên để tiến hành thủ tục khởi kiện đòi quyền nuôi con, bạn phải gửi đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo đến Tòa án nhân dân cấp huyện (Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) nơi chồng bạn đang cư trú. Bạn có thể nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa hoặc gửi đến Tòa án qua đường bưu điện.

>> Xem ngay: Quyền nuôi con thuộc về vợ hay chồng sau ly hôn?

2. Tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn: Ly hôn tòa lại giao con cho bà ngoại

Tòa án nhân dân TP Bến Tre (Bến Tre) vừa có văn bản kiến nghị gửi chánh án TAND tỉnh Bến Tre về một bản án ly hôn của tòa này bị TAND tỉnh sửa trước đó.

Theo luật, chỉ khi cha mẹ, anh, chị, em không còn thì ông bà nội, ông bà ngoại mới có quyền nuôi dưỡng cháu.

Sơ thẩm: Cha được nuôi

Theo hồ sơ, cuối năm 2008, anh N. nộp đơn ra TAND thị xã Bến Tre (nay là TP Bến Tre) xin ly hôn với chị Ng.

Tại phiên sơ thẩm tháng 11-2008, anh N. khai vợ chồng họ kết hôn năm 2003, nay đã có một con chung năm tuổi. Sau hai năm chung sống tại TP.HCM, vợ chồng bất đồng quan điểm nên chị Ng. đem con về sống với cha mẹ ruột tại Bến Tre. Nay anh yêu cầu tòa cho ly hôn và được trực tiếp nuôi con, còn tài sản chung và nợ chung thì không có gì.

Ở phiên xử này, chị Ng. chỉ có bản tự khai gửi đến tòa do trước đó chị phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, đang phải thụ án sáu năm tù. Theo bản tự khai, chị đồng ý ly hôn, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung mà chỉ yêu cầu được nuôi con.

TAND thị xã Bến Tre nhận định về mặt hôn nhân, hai bên đương sự đều thuận tình chia tay. Về mặt nuôi dưỡng con chung, chị Ng. đang thụ án tù, không có điều kiện nuôi con. Vì vậy, tòa đã chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N., giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa cũng ghi nhận là nếu sau này, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên thì tòa có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Phúc thẩm: Bà ngoại được nuôi

Sau đó, chị Ng. có đơn kháng cáo gửi từ trại giam, yêu cầu tòa phúc thẩm giao con cho mình nuôi. Tháng 3-2009, TAND tỉnh Bến Tre xử phúc thẩm đã ra phán quyết trái ngược hoàn toàn so với cấp sơ thẩm: Giao quyền nuôi con cho chị Ng. Vì chị Ng. đang thụ án tù nên tòa giao cho mẹ chị tiếp tục nuôi dưỡng cháu bé cho đến khi chị chấp hành án xong.

Theo tòa, từ năm 2005, chị Ng. đã ôm con về sống với mẹ ruột tại Bến Tre cho đến nay. Sau khi chị thụ án tù, mẹ chị vẫn nuôi dưỡng, cho cháu bé học hành. Giờ nếu thay đổi người nuôi dưỡng, thay đổi môi trường sống (anh N. hiện sống tại TP.HCM) sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ.

Mặt khác, đứa con còn là niềm an ủi lớn giúp chị Ng. an tâm cải tạo trong thời gian thụ án, nếu giao con cho anh N. thì điều kiện gặp con của chị vô cùng khó khăn, ảnh hưởng xấu đến tinh thần của chị. Tòa nhận định anh N. sinh sống tại TP.HCM, lại là người chủ động ly hôn nên sau này khả năng anh đi thăm chị Ng. hầu như không có, tức mẹ con chị Ng. sẽ không có điều kiện gặp gỡ.

Cấp dưới không phục!

Sau đó, TAND TP Bến Tre đã tổ chức họp rút kinh nghiệm để tránh sai sót khi giải quyết những vụ án tương tự. Tuy nhiên sau buổi họp, TAND TP Bến Tre đã không rút ra được kinh nghiệm gì mà còn băn khoăn về việc áp dụng pháp luật nên đã làm kiến nghị gửi chánh án TAND tỉnh Bến Tre.

Theo TAND TP Bến Tre, pháp luật chỉ quy định về quyền được nuôi con, quyền thay đổi việc nuôi con của cha mẹ chứ không hề có quy định về quyền nuôi con của ông bà thay cho cha mẹ khi cha hoặc mẹ còn sống, chịu đứng ra đảm nhận trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Cụ thể, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, trong trường hợp cha mẹ không còn thì con do anh, chị, em nuôi dưỡng. Nếu cả cha mẹ, anh, chị, em không còn thì ông bà nội, ông bà ngoại mới nuôi dưỡng cháu.

Trong vụ án cụ thể này, sau khi cải tạo về, chị Ng. vẫn có quyền xin thay đổi người nuôi con. Như vậy, việc tòa phúc thẩm sửa án, giao con chung của cha mẹ cho bà ngoại nuôi là không có cơ sở pháp lý, chưa thuyết phục.

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:

1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

(Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình)

Nghĩa vụ và quyền của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu:

1. Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 48 của luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

(Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình)

Nghĩa vụ và quyền của anh, chị, em:

Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

(Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình)

>> Xem ngay: Ly hôn và giành quyền nuôi con khi bị chồng đánh đập?

3. Tư vấn về giành quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Vừa qua vợ tôi bỏ nhà theo nhân tình, bỏ tôi và 2 con. Hiện nay, con tôi một cháu 6 tuổi cháu còn lại 4 tuổi đang ở cùng với tôi. Đúng tháng 6 này là vợ tôi đi được 2 năm và hiện đã có gia đình và có con với người đó. Như vậy khi tòa án giải quyết đơn ly hôn thì con tôi sẽ do ai nuôi ? Tôi muốn nuôi 2 con của tôi được không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Người gửi: T.T.S

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1940

Trả lời:

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể là:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên, các con của bạn đều đã đủ 36 tháng tuổi trở lên và dưới 7 tuổi nên vợ chồng bạn có quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn với con. Do đó, bạn có quyền được nuôi cả hai con nếu vợ chồng bạn thỏa thuận được về vấn đề này. Nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Để giành được quyền nuôi con, bạn cần đưa ra các bằng chứng về điều kiện về vật chất, tinh thần,...chứng minh nếu con ở với bạn sẽ tốt cho sự phát triển về mọi mặt của con.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Để được hỗ trợ thêm, bạn vui lòng gọi vào tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.1940.

Trân trọng./.

>> Xem ngay: Điều kiện để giành quyền nuôi con sau ly hôn?

4. Tư vấn về quyền nuôi con của người mẹ sau khi ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi kết hôn được 10 năm có 2 đứa con, 1 đứa 9 tuổi và 1 đứa 5 tuổi. Hiện giờ tôi muốn ly hôn và xin nuôi 2 con, nếu không được thì có thể mỗi người 1 đứa, nhưng tôi sợ chồng sẽ không đồng ý ly hôn và không đồng ý cho tôi nuôi đứa con nào (vì anh ý bảo muốn đi thì đi 1 mình). Vậy tôi có chắc chắn ra toà sẽ đc nhận nuôi 1 đứa con hay không ? Tôi xin chân thành cảm ơn. Người gửi: N.H.T

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau: Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, hai con của chị một cháu 10 tuổi, một cháu 5 tuổi; khi quyết định quyền nuôi con phải xem xét nguyện vọng của cháu 10 tuổi (Khoản 2 Điều 81).

Việc xác định quyền nuôi con sau khi ly hôn phụ thuộc vào thỏa thuận của hai vợ chồng và điều kiện kinh tế, các yếu tố tinh thần nhất định. Cụ thể như sau:

- Nếu hai vợ chồng thỏa thuận được ai là người trực tiếp nuôi con, đồng thời thỏa thuận này đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho con thì Tòa án tôn trọng thỏa thuận này.

- Nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được ai là người trực tiếp nuôi con thì Tòa án sẽ quyết định, dựa trên các điều kiện vật chất (kinh tế, nơi ăn ở, nuôi dưỡng...) và các yếu tố tinh thần (tình cảm, văn hóa, giáo dục...) để có quyết định cuối cùng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

>> Xem ngay: Vợ không có việc làm có được quyền nuôi con sau ly hôn?

5. Tư vấn thủ tục ly hôn, phân chia tài sản và giành quyền nuôi con ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi đã kết hôn được hơn 1 năm và đã có cháu được 8 tháng tuổi. Tình trạng hôn nhân hiên nay của chúng tôi như sau : Hiện nay tình cảm vợ chồng tôi không còn như trước thường xuyên cãi vã và thường xuyên tôi bị đánh đuổi ra khỏi nhà.

Tôi thấy ở 2 chúng tôi không còn tiếng nói chung, không thể chia sẻ và không thể hòa thuận với nhau được nữa, nên tôi có ý định ly hôn rất mong được bên công ty tư vấn giúp tôi.

Về tài sản chúng tôi có 1 số tiền tiết kiệm khoảng 30.000.000 trong số đó thì 80% là tiền của tôi còn lại là phần của chồng tôi, và tôi có nguyện vọng là sau ly hôn tôi sẽ đưa số tiền đấy cho ông bà nội cháu vì trước giờ tiên bỉm sửa, đồ ăn, quần áo của cháu là do ông bà cháu mua.

Về phần con cái tôi có nguyện vọng sẽ được nuôi cháu và sẽ không nhận bất cứ sự trợ cấp nào của bên bố cháu và ông bà nội.

Vậy tôi khi ly hôn liệu nguyện vọng của tôi có được đáp ứng không ạ ? Thủ tục cần làm như thế nào ạ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!!

Người gửi: N.H

Tư vấn thủ tục ly hôn, phân chia tài sản và giành quyền nuôi con ?

Luật sư tư vấn hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

+)Căn cứ Luật hôn nhân gia đình 2014 điều 51 quy định như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy luật hôn nhân và gia đình quy định trường hợp hạn chế ly hôn của người chồng khi vợ đang có thai sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi để bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em. Vậy trường hợp của chị khi đang nuôi con 8 tháng tuổi thì anh chồng chị không được quyền xin ly hôn. Tuy nhiên nếu như lúc này chị vẫn muốn xin ly hôn chị có thể gửi đơn xin ly hôn đơn phương.

+)Thủ tục ly hôn:

Bạn chuẩn bị và nộp một bộ hồ sơ xiin đơn phương ly hôn.Thông thường trong những trường hợp này thì hồ sơ ly hôn bao gồm :

- Đơn xin ly hôn;

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Chứng minh nhân dân của vợ và chồng, sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của các con nếu có (bản sao có chứng thực);

- Giấy tờ liên quan đén tài sản nếu có (bản sao có chứng thực).

+)Tòa án có thẩm quyền

Bạn nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bị đơn (chồng bạn) cư trú, làm việc.

+) Về tài sản

Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Vậy bạn hoàn toàn có thể thỏa thuận với chồng về tài sản là sổ tiết kiệm trị giá 30.000.000 này.

+) Về con chung:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, con bạn nay được 8 tháng tuổi nếu bạn đủ điều kiện (điều kiện vật chất, tinh thần...) trực tiếp nuôi con,chăm sóc con thì bạn sẽ là người trực tiếp nuôi con.

+) Mức cấp dưỡng:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì "người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con". Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem ngay: Hai vợ chồng đều không có công việc ổn định ai được quyền nuôi con sau ly hôn?

6. Quyền nuôi con 6 tháng tuổi khi cha mẹ ly hôn ?

Kính chào Luật sư! Luật sư cho em hỏi: Cả 2 vợ chồng em cùng đồng ý muốn ly hôn ạ. Nhưng hiện giờ con em mới được có 6 tháng thôi ạ. Em vẫn ở nhà nuôi con vì con còn nhỏ quá ạ. Nhưng đến khi ra tòa thì em có được quyền nuôi con không ạ. Em cảm ơn luật sư nhiều!

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình về quyền nuôi con sau ly hôn, gọi số:: 1900.1940

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì con bạn mới có 6 tháng tuổi, đối chiếu theo quy định của pháp luật trên thì bạn sẽ là người được trực tiếp nuôi con trừ trường hợp vợ chồng bạn có thỏa thuận khác hoặc bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chồng ngoại tình, vợ có thể ly hôn và giành quyền nuôi con?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân gia đình - Công ty luật MInh Khuê