Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê. Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin hỗ trợ trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch

- Nghị định số 06/2012/NĐ-CP về Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực

- Thông tư số 01/2008/TT-BTP về Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch 

2. Nội dung phân tích:

Căn cứ Điều 18 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch và điểm 2 Mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 thì hồ sơ hai bạn phải chuẩn bị và trình tự thực hiện đăng ký kết hôn như sau:

Về hồ sơ gồm:

- Tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân;

- Xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai (theo mẫu quy định) hoặc Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân:

Nhận kết quả: Khi đến nhận kết quả, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện UBND phường, xã, thị trấn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì công chức ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Hai bên ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn; trao kết quả cho người nhận. Trong trường hợp một trong hai người không thể có mặt vì những lí do chính đáng, bạn phải chuẩn bị một tờ đơn xin vắng mặt, trong đơn ghi rõ lý do không thể đến, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường nơi người vắng mặt cư trú. Tuy nhiên, bạn cần liên hệ trước với Ủy ban để biết chắc lí do vắng mặt của mình được chấp nhận.

Như vậy, theo những quy định nêu trên, việc đăng ký kết hôn phải có sự góp mặt của cả nam và nữ. Tuy nhiên, theo những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi nhận thấy có sự mâu thuẫn lớn đó là bạn nói chỉ chung sống không có đăng ký kết hôn nhưng người yêu bạn lại nói đã đăng ký kết hôn, song bạn có vẻ như không hề biết. Với trường hợp này, rất có thể bạn trai bạn đã nói sai sự thật với bạn. Tờ giấy kết hôn hoàn toàn không tồn tại. Nếu không tồn tại thì không phải làm thủ tục hủy. Nếu như có giấy đăng ký kết hôn bạn cần kiểm tra và yêu cầu UBND xã nơi cấp giấy đăng ký kết hôn này giải thích.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê