Một tuần tôi lên thăm vợ con 1 lần và chu cấp cho 2 mẹ con đầy đủ vì phải công tác. Vừa qua tôi lên thăm và đã sảy ra mâu thuẩn giữa 2 vợ chồng (người bạn của cô ấy lấy diện thoại lạ và nhắn tin như vợ em đang ngoại tình) vì quá nóng giận nên 2 vợ chồng đã có hành động không đúng với nhau và lớn tiếng trong gia đình nhà vợ. Khi người lớn nghe và biết thì gọi công an đến và mời em làm việc, sau khi xét tính chất nghiêm trọng và nói chuyện với gia đình nhà vợ nên công an đã cho tôi về sau đó 15 phút. Từ hôm đó cho đến nay gia đình vợ tôi không cho tôi được quyền lên thăm con và chăm sóc con và nói sẽ làm giấy khai sinh sẽ không có tên Cha.

Xin hỏi Luật sư:

1. Nếu vợ tôi làm giấy khai sinh cho con tôi mà con tôi không mang họ cha và không có tên Cha trong giấy khai sịnh thì có trái với Luật HNGĐ không? Tôi phải làm gì và như thế nào để được quyền làm Cha?

2. Nếu vợ tôi làm giấy khai sinh cho con tôi (không hỏi ý kiến tôi) mà người Cha và người Mẹ không phải là vợ chồng tôi thì người đứng giấy khai sinh của con tôi có vi phạm pháp luật không? Tôi phải làm những gì để dành quyền làm Cha và Me cho vợ chồng tôi?

3. Gia đình bên Vợ tôi ngăn cản không cho tôi thăm con tôi như vậy có trái với Quy định của pháp luật không?

4. Vợ tôi không có khả năng tài chính để nuôi con thì tôi phải làm như thế nào, thủ tục ra sao và nhờ cơ quan pháp luật nào can thiệp?

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: NH

Câu hỏi được biên tập từ bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình của Công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn trực tuyến gọi số:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty luật Minh Khuê. Trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 

Nghị định 158/2005/NĐ-CP về Đăng ký và quản lý hộ tịch 

Thông tư số 01/2008/TT-BTP của Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất Vợ của bạn làm giấy khai sinh cho con không mang họ Cha và không có tên Cha trong giấy khai sinh thì không trái với luật HNGĐ vì hai người chưa đăng kí kết hôn, nên con sinh ra được coi là con ngoài giá thú

Theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, trong trường hợp "khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh."

Nhưng trong trường hợp của bạn Theo Luật hôn nhân và Gia đình 2014 có quy định về việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng như sau:

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Cho nên, với trường hợp này của bạn thì mặc dù hai người chưa đăng kí kết hôn nhưng có căn cứ đã chung sống với nhau như vợ chồng thì bạn vẫn được nhận con. Trong trường hợp của bạn, vào thời điểm làm giấy khai sinh cho con, bạn có thể tiến hành thủ tục nhận con, UBND cấp xã sẽ kết hợp việc nhận con và làm giấy khai sinh cho trẻ. Khi đó, trong sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của trẻ có đầy đủ tên cha và mẹ.

Theo quy định tại Điều 34 Nghị định 158/2005/NĐ-CP nói trên, để làm thủ tục nhận con, bạn cần có: Tờ khai (theo mẫu); Các giấy tờ, đồ vật hoặc chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con (nếu có); và có sự đồng ý của mẹ đứa trẻ

Ngoài ra, điểm b khoản 4 mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch còn quy định: trường hợp con sinh ra trước ngày cha, mẹ đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận, tên của người cha sẽ được ghi ngay trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con mà người cha không phải làm thủ tục nhận con. Theo đó, để trẻ được khai sinh có đầy đủ tên cha, mẹ trong sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh mà bạn không phải làm thủ tục nhận con (như đã nêu ở trên) bạn và mẹ đứa trẻ nên tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã trước khi tiến hành thủ tục khai sinh cho trẻ.

Về xác định họ của người con, tại điểm e khoản 1 Mục II Thông tư 01/2008/TT-BTP nói trên cũng hướng dẫn: khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ. Trong trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không có quyết định công nhận việc nhận cha cho con, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người mẹ.

Như vậy, sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha cho con hoặc sau khi bạn và mẹ đứa trẻ có Giấy chứng nhận kết hôn, trong sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của người con, người con được mang họ và quê quán của bạn, trừ trường hợp hai người có thỏa thuận lấy họ đứa trẻ theo họ của người mẹ.

Thứ hai, nếu người đứng tên người cha và người mẹ trong giấy khai sinh đã thực hiện thủ tục đăng ký nuôi con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi 2010 và Mục 4 Nghị định 158/2005/NĐ-CP thì hành vi đó hoàn toàn hợp pháp.

Để giành lại quyền của mình thì bạn cần làm thủ tục nhận con theo như chúng tôi đã tư vấn ở trên.

Thứ ba, trong trường hợp bạn chưa được công nhận là cha của đứa trẻ thì việc gia đình vợ bạn ngăn cấm bạn thăm con không được coi là vi phạm pháp luật. Còn nếu bạn đã được xác định là cha của đứa trẻ thì hành vi đó đã vi phạm quy định của pháp luật. Cụ thể là khoản 2 Điều 69 và Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. 

Và: “1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

Thứ tư, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định:

 “1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
 2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
 a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
 b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
 3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

 4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.”

Theo đó, bạn có quyền yêu cầu Tòa án cấp huyện quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con với lý do là người đang trực tiếp nuôi con không đủ khả năng tài chính để nuôi con.

Thủ tục yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con như sau:

- Đơn yêu cầu gồm các nội dung chính quy định tại khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự:

+ Ngày, tháng, năm viết đơn;

+ Tên Toà án có thẩm quyền giải quyết đơn;

+ Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

+ Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó;

+ Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có;

+ Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu;

+ Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

- Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp được gửi kèm theo đơn yêu cầu.

- Gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ bạn cư trú.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn  pháp luật hôn nhân và gia đình.