Người gửi : Tường vĩ

Luật sư trả lời:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Luật nuôi con nuôi 2010

2. Nội dung tư vấn

2.1. Quy định về quyền thay đổi người trực tiếp sau khi ly hôn

Căn cứ Điều 21 Luật nuôi con nuôi 2010

"Điều 21. Sự đồng ý cho làm con nuôi

1. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

..."

Bên cạnh đó, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về vấn đề Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ".

Trong trường hợp này, mẹ bạn đang là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhưng không có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc cho hai em của bạn nên đã cho hai em của bạn làm con nuôi mà chưa có sự đồng ý của bố bạn vì vậy bố bạn hoàn toàn có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

2.2. Thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Theo quy định Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

..."

Theo đó, căn cứ theo quy định nêu trên thì tòa án nhân dân quận, huyện nơi mẹ của bạn cư trú có thẩm quyền giải quyết việc yêu cầu thay đổi quyền nuôi con. Do đó, nếu bố bạn muốn giành lại quyền nuôi con thì phải làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con gửi lên Tòa án nhân dân quận, huyện nơi mẹ bạn đang cư trú để được yêu cầu giải quyết, kèm theo đó bố bạn phải đưa ra được những căn cứ chứng minh mẹ bạn không còn đáp ứng đủ điều kiện để nuôi con như: không có thu nhập, không có nơi ở hợp pháp, điều kiện nuôi con khác không còn đảm bảo và cho con làm con nuôi khi chưa có sự đồng ý từ bố bạn. Tuy nhiên quy định này chỉ áp dụng được khi nguyên đơn biết địa chỉ cư trú của bị đơn.

Trong trường hợp nếu bố bạn không thể liên lạc cũng như không xác định được nơi cư trú của mẹ bạn để nộp đơn thì theo Khoản 1 Điều 40 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

"​Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

..."

Như vậy, bố bạn có quyền yêu cầu Tòa án nơi mẹ bạn cư trú cuối cùng để giải quyết hoặc yêu cầu Tòa án nơi bố bạn cư trú giải quyết trong trường hợp không biết nơi cư trú của bị đơn là mẹ bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê