Nếu như không được vay nhưng vợ thông đồng với ngân hàng vẫn cầm sổ đỏ vay được tiền, thì ai sẽ chịu trách nhiệm về vụ việc này và trách nhiệm giữa các bên như thế nào theo quy định của pháp luật?

2.Khi vợ chồng ly hôn, tòa án buộc người chồng cùng trả nợ hay cho ngân hàng được phép phát mãi tài sản theo hợp đồng vay trên có đúng pháp luật không?
3.Nếu hợp đồng vay trên trái pháp luật, người c hồng yêu cầu ngân hàng trả lại sổ đỏ để phân chia tài sản có được không?Trách nhiệm trả số tiền vay đó người chồng phải chịu không?Yêu cầu ngân hàng đưa ra bộ hồ sơ gốc vay tiền có được không, nếu ngân hàng cố ý không chấp hành sẽ chịu trách nhiệm như thế nào?
4.Những tài sản của hai vợ chồng mà vợ tự ý đem bán lấy tiền và các khoản tiền chồng gửi cho vợ mà vợ sử dụng không chứng minh được mục đích có được tòa án xét xử đưa ra để phân chia tài sản hay không?
5.Người chồng có đầy đủ giấy tờ hợp pháp, chứng minh hành vi của vợ và ngân hàng là sai phạm nhưng tòa án huyện, tỉnh phán quyết không công bằng có hành vi bao che, chạy tội, thì phải kêu oan như thế nào?Và trách nhiệm về sự sai phạm trên sẽ bị xử lý như thế nào?
Đây là vụ án ly hôn đã xử sơ thẩm và đã kháng cáo phúc thẩm, bác bỏ bảng án sơ thẩm, nhưng vẫn chưa xử phúc thẩm vì có hành vi chạy án của người vợ với ngân hàng và tòa án, kể cả luật sư bào chữa cho người chồng cũng bị mua chuộc.Như vậy, người bị hại phải làm như thế nào?
Rất kính mong nhận được sự tư vấn của các chuyên gia.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các chuyên gia và mong nhận được sớm phản hồi có tấm lòng vì chính nghĩa.

Rất rất chân thành cảm ơn./.

Người gửi: Minh Tanh Nguyen

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162

 

Trả lời:

Căn cứ pháp lý: Luật hôn nhân và gia đình 2000, Bộ Luật dân sự 2005,

1. Theo quy định tại khoản 1 điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2000 thì:

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận” nên quyền sử dụng đất là tài sản chung của hai vợ chồng. Hơn nữa, Khoản 3 điều 28 Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định: “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này”.

Vì vậy, việc chị vợ mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) để đem đi thế chấp tại ngân hàng (tham gia giao dịch có bảo đảm) là trái với pháp luật nên trường hợp này là không được vay tiền.

Nếu giao dịch trên là trái luật thì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là vô hiệu và theo quy định của BLDS 2005 thì các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận, nếu có thiệt hại và lỗi của bên nào thì bên đó phải bồi thường. Nếu vợ anh thông đồng với ngân hàng để tiếp tục giữ sổ đỏ thì anh có quyền kiện ngân hàng đã cho cô vợ vay tiền ra Tòa án nơi ngân hàng đặt trụ sở để yêu cầu họ trả lại sổ đỏ theo điều 255 BLDS 2005: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, châm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

2. Khi vợ chồng ly hôn, thì theo quy định của LHNGĐ 2000 thì anh và chị sẽ được chia khối tài sản chung bao gồm quyền sử dụng đất đó. Như đã phân tích ở trên, giao dịch có bảo đảm giữa cô vợ và ngân hàng là trái luật nên bị vô hiệu nhưng giao dịch khác là vay tiền thì vẫn còn hiệu lực. Theo quy định tại điều 25 LHNGĐ 2000: “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” thì hai anh chị có trách nhiệm liên đới đối với các khoản nợ của nhau trong thời kì hôn nhân. Do đó, anh phải cùng chị trả nợ cho ngân hàng.

3. Trong trường hợp ngân hàng cố ý không thực hiện nghĩa vụ trả lại sổ đỏ cho anh thì khi kiện ra Tòa án thì họ sẽ có biện pháp cưỡng chế buộc ngân hàng phải trả lại sổ đỏ.

4. Trong trường hợp đó là tài sản chung của hai vợ chồng thì sẽ phải chia theo quy định của pháp luật. Nếu đó là tài sản riêng quy định tại điều 32 LHNGĐ 2000: “1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân;2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung” thì không phải chia cho cô vợ.

5. Trong trường hợp Tòa án đã xét xử sơ thẩm rồi, nếu phát hiện Tòa án có sự thiên vị, xét xử sai sự thật làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của anh, anh có thể kháng cáo bản án sơ thẩm đó lên cơ quan Tòa án cấp trên. Trường hợp này, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự  nếu bản án sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử phúc thẩm nhưng trong quá trình giải quyết tiếp tục có những dấu hiệu sai phạm và bản án cấp phúc thẩm đó đã bị kháng nghị thì sẽ có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm theo điều 282 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đến đây, anh có thể yên tâm rằng các cơ quan tố tụng sẽ giải quyết một cách đúng pháp luật, công tâm nhất mặc dù sẽ phải mất rất nhiều thời gian.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê