Năm 2014 tôi yêu cầu cha mẹ Vợ sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi nhưng ông không đồng ý. Sau đó tôi viết đơn kiến nghị gửi đến Ủy ban nhân dân xã nơi cha mẹ vợ cư trú giải quyết việc cha mẹ vợ không đồng ý sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi. Khi ban nhân dân xã mời cha mẹ vợ đến giải quyết hòa giải theo đơn kiến nghị của tôi Thì ông trả lời như sau[ 1.500 mét vuông đất ruộng đó ông đứng dùm cho con gái và con rể muốn ông sang tên quyền sử dụng đất thì phải trả cho ông 20 triệu đồng tiền nợ ] nói rồi ông ký vào biên bản hòa giải. Tôi cũng ký vào biên bản hòa giải. trong biên bản hòa giải cũng có ghi Câu nói này của ông. thành phần của ủy ban xã tham dự có: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Chủ tịch mặt trận xã. Chủ tịch Hội phụ nữ xã. Trưởng phòng địa chính xã. Chủ tịch hội nông dân xã. Trưởng công an xã. Đại diện văn hóa xã. Đại diện Tổ tiếp nhận hồ sơ công dân xã. Đại diện Đoàn thanh niên xã. Sau đó tôi bàn bạc với vợ trả số nợ nói trên cho cha mẹ vợ để được sang tên quyền sử dụng đất. Nhưng vợ tôi không đồng ý rồi viết đơn li hôn gửi tới tòa án nơi chúng tôi đăng ký tạm trú.

Trong đơn li hôn vợ tôi không thừa nhận số nợ trên. Vợ tôi cũng không thừa nhận diện tích đất nông nghiệp đó là tài sản chung mà nói là đất của cha mẹ vợ không liên quan đến Vợ Tôi . Khi tòa án Mời cho mẹ vợ đến với tư cách là người liên quan. Thẩm phán tòa án hỏi ông là: 1500 mét vuông đất nông nghiệp này là của ai.( Thì ông nói là của ông. Biên bản hòa giải đó không có giá trị).

Vậy luật sư cho tôi biết theo biên bản hòa giải mà cha mẹ vợ đã ký thì diện tích đất nông nghiệp đó có phải là tài sản chung của vợ chồng tôi không ? Số tiền nợ mà tôi đã ký trong biên bản hòa giải là nợ riêng của tôi hay là nợ chung của vợ chồng tôi ?

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900 6162

 

Luật sư trả lời:

 Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi thắc mắc đến chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của công ty Luật Minh Khuê, với câu hỏi này tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ khoản 16 điều 3 Luật Đất đai 2013quy định:

16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Theo quy định trên, trường hợp bạn không có căn cứ khác thì người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được coi là chủ sở hữu quyền sử dụng đất đó. Tuy nhiên, đối với trường hợp này không biết bạn còn hợp đồng chuyền giao quyền sử dụng đất khi bạn mua đất từ người chủ trước hay không? Nếu còn, bạn có thể xử lý như sau:

Thứ nhất, bạn cần gửi đơn khởi kiện đòi lại khoản tiền mua đất đó đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất.

Thứ hai, cung cấp bản sao hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tòa án (đây là chứng cứ chứng minh bạn là chủ sở hữu số tiền mua đất đó).

Đối với khoản tiền mà vợ chồng bạn bỏ ra để mua đất trong thời kỳ hôn nhân thì theo quy định tại khoản 1 điều 33 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. 
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Theo quy định này thì khoản tiền dùng để mua 1500m2 đất của vợ chồng bạn là tài sản chung của vợ chồng và bạn có thể đòi lại khoản tiền này.
Về số tiền nợ trong biên bản hòa giải thì khi bố vợ bạn phủ nhận biên bản hòa giải điều đó đồng nghĩa với việc bạn cũng không còn nghĩa vụ gì với khoản nợ được nêu trong biên bản hòa giải ấy nữa, cho nên, bạn không cần phải lo lắng về vấn đề này.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Xác định tài sản chung sau khi ly hôn của vợ chồng do cha mẹ đứng tên ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê