Nhưng vẫn chưa trả được thì ngày 18/10/2015 vợ tôi ôm con và tài sản của 2 vợ chồng trốn về quê và nói sẽ ly hôn. Vậy trong trường hợp này dù ba mẹ tôi đứng ra chịu trách nhiệm nhưng 200 triệu này có phải vẫn là nợ chung không, và sẽ giải quyết như thế nào. Khi Vợ tôi ôm con đi về quê, tôi có liên lạc để hỏi xem tình hình con cái như thế nào thì cô gởi con cho ông bà ngoai và đang đi kiếm việc làm, con thì không cho đi học và cũng không cho ông bà nội liên lạc. Vậy trong trường hợp này dù chưa ly hôn nhưng tôi có thể giành quyền chăm sóc con hay không và cơ quan nào sẽ giải quyết vấn đề này.

Xin cảm ơn luật sư Công ty luật Minh Khuê đã tư vấn, giải đáp pháp luật rất tận tình cho người dân!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân và gia đinh của công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ luật Dân sự mới nhất năm 2015

2. Nội dung tư vấn:

2.1. Về vấn đề nợ của vợ chồng:

Dựa vào thông tin bạn cung cấp thì ba mẹ bạn đã đứng ra chịu trách nhiệm và hứa khi nào bán được đất sẽ trả nợ số tiền 200 triệu cho người mà bạn đã vay nợ để chi phí sinh hoạt và đầu tư vào làm ăn thì việc ba mẹ bạn chịu trách nhiệm trả nợ thay được coi là bảo lãnh.

Theo điều 361 Bộ luật dân sự 2005 về bảo lãnh:

"Điều 361. Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình."

Hình thức bảo lãnh phải bằng văn bản vì theo điều 362 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực. "

Như vậy:

- Nếu việc bố mẹ bạn đứng ra trả nợ thay mà không lập thành văn bản thì việc trả nợ thay không có giá trị pháp lý và hai vợ chồng bạn vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ đó.

- Nếu việc trả nợ thay được lập thành văn bản thì:

Theo điều 365, 367 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 365. Nhiều người cùng bảo lãnh  

Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì họ phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Khi một người trong số những người bảo lãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình."'

"Điều 367. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh  

Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác."

Do vậy, nếu ba mẹ bạn sau khi đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà không yêu cầu vợ chồng bạn trả nợ thì vợ chồng bạn sẽ không phải trả nợ đối với khoản nợ đó nữa. Nếu ba mẹ bạn có thỏa thuận với bạn hoặc cả hai vợ chồng bạn là sẽ trả nợ thay cho chủ nợ trong lúc đó nhưng hai vợ chồng vẫn phải trả nợ cho bố mẹ bạn thì nghĩa vụ trả nợ vẫn thuộc về vợ chồng bạn cả khi chưa ly hôn và sau khi đã ly hôn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo quy định tại điều 30, 37, 60 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.''

"Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

''Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết."

2.2. Về quyền chăm sóc con khi chưa ly hôn:

Theo điều 71 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ."

Như vậy, cha mẹ có quyền ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con. Việc vợ bạn không cho bạn liên lạc với con là không đúng với quy định của pháp luật.

Vì quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại cho nên chưa có chế định cụ thể nào quy định về việc phân định nuôi con trong khoảng thời gian hai vợ chồng bạn chưa ly hôn. Quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt trong trường hợp theo điều 57 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 57. Thời điểm chấm dứt hôn nhân và trách nhiệm gửi bản án, quyết định ly hôn

1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Tòa án đã giải quyết ly hôn phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan."

Vì vậy để giành quyền nuôi con thì cần có thủ tục ly hôn khi một bên ly hôn đơn phương hoặc hai bên thỏa thuận theo phán quyết mà Tòa án đưa ra.

Để giải quyết vấn đề này bạn có thể thỏa thuận với vợ của mình về việc nuôi con, nếu việc thỏa thuận không được bạn có thể tiến hành thủ tục đơn phương ly hôn, khi đó Tòa án sẽ giải quyết theo quy định pháp luật.

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Việc nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, con bạn đã 40 tháng tuổi cho nên việc nuôi con sau khi ly hôn do vợ chồng thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận : 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê