Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư ư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật việc làm 2013 số 38/2013/QH13

Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

2. Nội dung tư vấn:

Xin chào Luật sư. Xin tư vấn giúp tôi trường hợp chế độ thôi việc cho viên chức tại đơn vị tôi như sau: - Viên chức hợp đồng vào làm việc tại Cơ quan chủ quản của đơn vị tôi và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ ngày 01/7/2007. - Sau khi đạt kỳ thi tuyển công chức, ngày 01/7/2008 viên chức được Sở Nội vụ tuyển dụng vào biên chế chính thức làm việc tại Cơ quan chủ quản. - Tháng 01/2009, Trung tâm được thành lập, Trung tâm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc . Trung tâm chính thức đi vào hoạt động tháng 6/2009 và Cơ quan chủ quản có quyết định điều động viên chức về làm việc tại Trung tâm kể từ tháng 6/2009. - Đến tháng 5/2016, viên chức có đơn xin thôi việc tại Trung tâm. Trong thời gian viên chức làm việc tại Trung tâm từ tháng 6/2009 đến tháng 5/2016, viên chức đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, khoảng thời gian viên chức làm việc tại Cơ quan chủ quản từ tháng 7/2007 đến tháng 5/2009 thì viên chức có được hưởng trợ cấp thôi việc không? Nếu có thì việc chi trả trợ cấp thôi việc được thực hiện như thế nào, theo quy định nào và do đơn vị nào chi trả? Xin luật sư tư vấn cụ thể cách chi trả chế độ thôi việc theo đúng quy định cho trường hợp của viên chức tại đơn vị tôi. Trân trọng cảm ơn!

Điều 48 Bộ luật Lao động quy định như sau:

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy xác nhận thu nhập tiền lương, tiền công mới nhất 2020

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì viên chức hợp đồng này vào làm tại đơn vị chủ quản của bạn và đã được đơn vị chủ quản của bạn tham gia bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, bạn lại không nói rõ viên chức hợp đồng này có được tham gia bảo hiểm thất nghiệp chưa. 

Như vậy, nếu viên chức hợp đồng này đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp rồi thì đơn vị chủ quản không phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người này.

Nếu viên chức hợp đồng này chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì đơn vị chủ quản phải chi trả trợ cấp thôi việc.

Dạ , .em có vấn đề này xin được tư vấn ạ.em đóng bảo hiểm xã hội được 2 năm và đang thất nghiệp .hiện giờ đang làm hồ sơ xin hưởng trợ cấp thất nghiệp .em muốn hỏi là em được hưởng 3 tháng thất nghiệp thế em có được hưởng tiếp nhận bảo hiểm y tế khôn

Điều 51 Luật Việc làm năm 2013 quy định:

“1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
2. Tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.”

Đồng thời, Điểm d Khoản 2 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bao gồm cả người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. 

Căn cứ theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm cấp thẻ BHYT mới cho đối tượng đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Như vậy, sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, bạn cần phải làm thủ tục đăng kí hưởng trợ cấp thất nghiệp. Sau khi có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp bạn sẽ được cơ quan BHXH cấp thẻ BHYT có thời hạn trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp. Khi đi khám chữa bệnh, bạn cần xuất trình thẻ BHYT đã được cấp để được hưởng các chế độ BHYT theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Quy định của luật lao động về chế độ tăng tiền lương cho người lao động theo chinh sách mới ?

> Chào luat su. Luat su giai dap giup em vai cau hoi. Chồng em lam o cong > ty. Nhung khi cong ty het viec. Chông em da lam don xin nghi. Tu giua thang > 3. Cong ty da nhan don nhung mai toi ngay nay cong ty van khong giai quyet > don cho chồng e. Vay luat su co the giup e , cho em biet phai lam gi voi > tinh huong nay. Cong ty khong giai quyet don nen chong em khong the nhan > tien bao hiem that nghiep cung nhu k nhan duoc so bao hiem xa hoi. Cong ty > lam vay có dung luat khong. Xin cam on luat su. >

Điều 47 Bộ luật Lao động quy định như sau:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán."

Như vậy, theo quy định của luật thì khi chồng bạn chấm dứt hợp đồng tại công ty thì trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Do đó, nếu công ty chồng bạn chưa thực hiện hết những trách nhiệm trong thời hạn trên thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước bảo đảm quyền lợi cho mình.

Điều 202 Bộ luật Lao động quy định như sau: 

"Điều 202. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

>> Xem thêm:  Đề cương giới thiệu luật kiểm toán nhà nước năm 2005

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm."

Như vậy, trong trường hợp này, nếu còn thời hiệu, bạn có quyền yêu cầu hòa giải viên lao động hoặc Tòa án giải quyết giúp mình. 

Xin chào Luật sư, Tôi có câu hỏi về sử dụng lao động cần tư vấn của luật sư. Chồng tôi đã làm ở công ty A được 2 năm, hợp đồng LĐ được tái ký theo 12 tháng. Ngày 09/06/2016 là hết hạn hợp đồng và công ty thông báo không tái ký HĐ đúng ngày 09/06. Và công ty có nói sẽ thanh toán cho chồng tôi thêm 15 ngày lương nữa là ngày 23/06. Theo tôi được biết, nếu công ty sử dụng lao động không tái ký HĐ thì phải báo trước 15 ngày trước khi hết hạn HĐ. Nhưng trường hợp này là báo đúng ngày hết hạn, và bồi thường 15 ngày lương. Cho tôi hỏi trong trường hợp không thông báo trước, thì bên sử dụng LĐ phải bồi thường bao nhiêu cho người LĐ, có phải chỉ 15 ngày lương thôi không? Và chồng tôi có được nhận khoản hỗ trợ thất nghiệp nào từ công ty không? Mong nhận được phản hồi sớm nhất từ luật sư. Cảm ơn luật sư rất nhiều

Điều 42 Bộ luật Lao động quy định như sau:

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Như vậy, chỉ khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định của luật thì người sử dụng lao động mới phải bồi thường theo quy định trên. Trong trường hợp này, người lao động hết hạn hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động không báo trước 15 ngày trước khi hợp đồng lao động hết hạn thì người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Khoản 1 Điều 7 Nghị định 95/2013/NĐ-CP như sau:

>> Xem thêm:  Một số điều cần biết khi xuất khẩu vào thị trường Anh Quốc

"Điều 7. Vi phạm quy định về thực hiện hợp đồng lao động
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không thông báo bằng văn bản cho người lao động biết trước ít nhất 15 ngày, trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn."

xin chào luật Minh Khuê tôi đang làm tại một công ty,vừa rồi tôi có làm đơn xin nghỉ việc vào ngày 16/2/2016 tức là sau khi nghỉ tết thì xin nghỉ việc; Cong ty nghỉ tết từ ngày 29/1/2015,đếnngày 15/2/2016 đi làm trở lại. Vậy trong thời gian nghỉ tết đó tôi có được hưởng chính sách nghỉ tết lễ của nhà nước quy định không ? rất mong được sự tư vấn của luật sư. Trân trọng cảm ơn !

 Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn làm đơn xin nghỉ việc vào ngày 16/2/2016 (sau tết) và công ty bạn có lịch nghỉ tết từ ngày 29/1/2015 đến ngày 15/2/2016 do đó trong trường hợp này, thời gian bạn nghỉ tết theo lịch của công ty bạn vẫn là người lao động của công ty.

"Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Bộ luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động."

Như vậy, bạn vẫn được hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Lao động, cụ thể:

"Điều 115. Nghỉ lễ, tết

1. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:

a) Tết Dương lịch 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);

b) Tết Âm lịch 05 ngày;

>> Xem thêm:  Trách nhiệm vật chất khi người lao động xin nghỉ việc?

c) Ngày Chiến thắng 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);

d) Ngày Quốc tế lao động 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);

đ) Ngày Quốc khánh 01 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch);

e) Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).

2. Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài ngày nghỉ lễ theo quy định tại khoản 1 Điều này còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.

3. Nếu những ngày nghỉ theo quy định tại khoản 1 Điều này trùng vào ngày nghỉ hằng tuần, thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp."

Em rất mong luật Minh Khuê giúp em giải đáp thắc mắc về luật lao động. Em bảo lưu kỳ cuối đại học để sang Mỹ chương trình giao lưu vh 1 năm. Khi em về năm 2015 có học nốt nhưng có 1 môn nhà trường hẹn lùi với em sang tháng 7 năm 2016 với lý do chưa sắp xếp được giáo sư từ mỹ về dạy. Nhà trường có cho em tham dự lễ tốt nghiệp và cho em giấy chứng nhận tốt nghiệp nhưng phải chờ tháng 7 này học xong mới được lấy bằng. Em đã thi tuyển vào làm nhân viên của Lotte Department Store được 7 tháng (hơp đồng 1 năm) thì họ bất ngờ kiểm tra bằng, em giải thích còn 1 môn 2 tháng nữa em sẽ lấy được bằng thì họ nói rằng em lừa dối họ và ép em tự viết đơn xin nghỉ việc và nghỉ ngay lập tức. Cho em hỏi họ có quyền ép em viết đơn nghỉ việc không ạ? Em xin cảm ơn Đã gửi từ iPhone của tôi

Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động quy định như sau:

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

>> Xem thêm:  Quy định của luật về mức lương khi thuyên chuyển công tác ?

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này...

Như vậy, theo quy định của luật thì công ty không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn trong trường hợp này. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật Lao động.

>> Xem thêm:  Công nhân dọn vệ sinh tại bệnh viện có được hưởng trợ cấp độc hại ?