Công ty A tuyển dụng thử việc kéo dài hai tháng nhưng chỉ gửi thông báo" Thông báo về việc tuyển dụng thử việc":

1/ Ngày 23/09/2014 tôi được công ty A tuyển dụng thử việc kéo dài 2 tháng bắt đầu từ ngày 15/10/2014 và công ty A chỉ gửi cho tôi "Thông báo về việc tuyển dụng thử việc". Vậy cho tôi hỏi Cty A làm như vậy có đúng không, tại tôi nghe nói bắt buộc phải có "Hợp đồng thử việc"

2/ Ngày 27/10/2014 tôi được Cty A cử đi đào tạo 1 tuần tại Ấn Độ căn cứ theo "Thông báo về việc tuyển dụng thử việc", và tôi có ký Cam kết làm việc 1 năm cho Cty A tính từ ngày được cử đi đào tạo. Vậy, nếu tôi không làm đủ 1 năm cho Cty A, tôi có phải bồi thường chi phí đào tạo không? vì tôi vẫn đang trong giai đoạn thử việc.

3/ Sau đó tôi có ký Hợp đồng lao động 6 tháng với Cty A (01/01/2015 - 30/06/2015); tuy nhiên, đến ngày 27/05/2015 tôi gửi Đơn xin thôi việc cho Cty A đề cập việc tôi sẽ chính thức nghỉ việc ngày 27/06/2015 (30 ngày bàn giao theo luật lao động). Sau đó Giám đốc cty A có gặp tôi trao đổi và yêu cầu hỗ trợ làm việc đến 15/07/2015 để tìm người bàn giao công việc và tôi cũng đồng ý; tuy nhiên, ngày 03/07/2015 tôi đã bàn giao xong công việc cho nvien được GD chỉ định nên tôi nghỉ việc từ 04/07/2015. Vậy cho tôi hỏi, tôi làm như vậy có đúng luật không? Quyết định nghỉ việc của tôi sẽ được ghi theo ngày nào? Những ngày làm việc của tôi sau 30/06/2015 có được trả lương hay không?

4/ Trong Hợp đồng lao động 6 tháng tôi ký có nội dung ghi là "Cty trang bị đồng phục cho nvien" và không có mục nào nói là nvien phải bồi thường chi phí đồng phục nếu làm ko đủ 12 tháng. Vậy tôi có phải bồi thường chi phí đồng phục không? Hay tôi chỉ cần trả lại đồng phục cho công ty như tất cả những trang thiết bị khác.

5/ Đến ngày hôm nay 13/07/2015 tôi vần chưa nhận được lương, quyết định nghỉ việc và sổ bảo hiểm. Tôi có liên hệ đến Cty A thì được biết lý do ghim lương của tôi là do tôi còn công nợ chi phí đào tạo, chi phí đồng phục, nhưng Cty A không hề gửi cho tôi bất cứ biên bản truy thu nào. Vậy tôi phải làm sao để đòi lại quyền lợi hợp pháp của mình?

Kính nhờ Quý luật sư tư vấn giúp tôi. Chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Lao động của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lí:

Bộ luật lao động 2012 

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất , đối với câu hỏi thứ nhất của bạn mình xin được phép trả lời như sau: Theo quy định tại điều 26 BLLĐ 2012 thì nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì bạn và phía bên công ty có thể giao kết hợp đồng thử việc, việc giao kết hợp đồng thử việc là không bắt buộc tuy nhiên về thời gian thử việc theo quy định tại điều 27 của Bộ luật này là không quá 60 ngày đối với ngành nghề cần chuyên môn, kĩ thuật và 30 ngày với ngành nghề cần trình độ chuyên môn kĩ thuật thấp hơn

Điều 26. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

Trả lời cho câu hỏi thứ hai của bạn như sau:

Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

Vì vậy bạn cần căn cứ vào thỏa thuận của hai bên từ trước, nếu bạn muốn nghỉ việc thực sự bạn có thể đưa ra một vài lí do chính đáng về điều kiện lương hoặc làm việc. Do vẫn trong thời gian thử việc nên bạn sẽ không cần bồi thường.

Trả lời cho câu hỏi thứ ba của bạn như sau:

- Việc bạn làm là thực hiện đúng pháp luật theo quy định pháp luật lao động

- Chi phí đào tạo: bạn cần xem trong hợp đồng có quy định về khoản này không, nếu có tuân theo thỏa thuận trong hợp đồng ngoài ra công ty cần cung cấp hóa đơn chi phí đào tạo cho bạn 

- Bạn sẽ vẫn được trả lương với những ngày mà bạn làm thêm theo quy định của pháp luật luật lao động

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

Điều 95. Kỳ hạn trả lương

1. Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

Điều 96. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Theo như bạn nói đó là trong hợp đồng không hề có điều khoản quy định về việc sẽ phải trả tiền đồng phục nếu làm dưới 12 tháng, tuy nhiên bạn không nói rõ trong hợp đồng lao động của bạn và công ty A có quy định là phải nộp tiền đồng phục hay không. Nếu không quy định rõ ràng thì bạn có thể trả lại đồng phục và không cần nộp tiền đồng phục.

Về câu hỏi tiếp theo của bạn nên giải quyết thế nào thì theo quy định tại điều 194 cách giải quyết tốt nhất hai bên nên gặp mặt để thương lượng với nhau còn nếu không đồng ý bạn có thể kiện ra Tòa án và khoảng thời gian kiện là 1 năm.

Điều 194. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động

1. Tôn trọng, bảo đảm để các bên tự thương lượng, quyết định trong giải quyết tranh chấp lao động.

2. Bảo đảm thực hiện hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.

3. Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.

4. Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

5. Việc giải quyết tranh chấp lao động trước hết phải được hai bên trực tiếp thương lượng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của hai bên tranh chấp, ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội.

6. Việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi một trong hai bên có đơn yêu cầu do một trong hai bên từ chối thương lượng, thương lượng nhưng không thành hoặc thương lượng thành nhưng một trong hai bên không thực hiện.

Điều 202. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn Luật lao động.