- Tháng 4/2013 cháu có kết hôn và hiện đang có thai, giám đốc kêu lên hỏi sơ sài giờ làm bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho mọi người kịp không? đồng ý thì trừ lương hằng tháng mỗi người 700k. Cháu trả lời là " đối với em thì bảo hiểm xã hội không kịp" thì giám đốc kêu vậy thôi khỏi và lờ luôn chuyện BH của cả công ty.

- Cuối tháng 6 giám đốc có thông báo công ty sẽ sát nhập với tập đoàn lớn, nên yêu cầu 2 vợ chồng cháu nghỉ 2 tuần và chỉ giữ lại một chị viết bài vì lý do công ty cần làm thủ tục pháp lý, hiện chưa có việc. Sau khi nghỉ 2 tuần, cháu đi làm lại, giám đốc lại kêu vợ chồng cháu lên bảo là phải nghỉ thêm 1 tuần nữa. Do chúng cháu không chịu nên để cháu lại làm việc còn chồng cháu sẽ nghỉ (chồng cháu bức xúc vì ngoài 8 tiếng làm việc ở công ty còn bị bắt tối phải thức onl để làm việc).

- Cháu làm được hết 1 tuần thì giám đốc điện thoại yêu cầu cháu nghỉ việc vì lý do có thai, tập đoàn bên kia không đồng ý, và chỉ trả lương 1 tuần rưỡi.

 Theo đúng luật lao động cháu biết - nếu công ty còn hoạt động thì không được phép đuổi việc lao động nữ kết hôn, có thai, nghỉ thai sản,..- nhưng ở đây cháu lại không có HĐLĐ nên cháu không biết làm thế nào? cháu có thể khởi kiện được không? và có thể nộp đơn cho cơ quan nào?

Cháu xin cám ơn!

Người hỏi: Hoàng Anh

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.1940

Mất việc vì đang mang thai

Tư vấn mất việc vì đang mang thai

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới văn phòng chúng tôi, tôi hướng dẫn bạn cách giải quyết như sau:
Căn cứ pháp lý:    Bộ luật lao động năm 2012
Bạn thân mến, thắc mắc của bạn có hai vấn đề lớn cần quan tâm như sau:

Thứ nhất: Vấn đề liên quan tới hợp đồng lao động:
Theo quy định của pháp luật lao động thì
“1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói”- trích Điều  16 BLLĐ năm 2012.
Do đó, nếu công ty sử dụng lao động với công việc có tính chất tạm thời dưới 3 tháng thì hợp đồng lao động có thể thể hiện bằng lời nói. Mặt khác, khi bạn vào làm việc ở công ty thì chắc chắn bạn đã có sự thỏa thuận với chủ sử dụng lao động về vấn đề việc làm. Theo đó, bạn sẽ có những giấy tờ, các tài liệu thông tin liên quan tới thỏa thuận việc làm với công ty. Bạn có thể sử dụng những tài liệu này làm chứng cứ chứng minh khi muốn kiện đòi lại quyền lợi cho mình.

Thứ hai: Vấn đề về quyền lợi của bạn trong hợp đồng lao động:
Dựa trên quy định của pháp luật về các trường hợp chấm dứt HĐLĐ được quy định tại Điều 36, Điều 38 của BLLĐ năm 2012 thì trường hợp của bạn không thuộc vào các trường hợp bị chấm dứt HĐLĐ. Mặt khác “Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản”- trích khoản 3 Điều 155 BLLĐ năm 2012. Do vậy, chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này của công ty là trái với quy định của pháp luật. Bạn có thể làm đơn gửi tới ban chấp hành công đoàn cơ sở để yêu cầu giải quyết quyền lợi cho mình. Nếu quyền lợi của bạn cũng không được giải quyết thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu tòa án giải quyết (vì trường hợp của  bạn là tranh chấp lao động cá nhân không phải qua thủ tục hòa giải). Ngoài ra, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37  BLLĐ và thông tin bạn cung cấp thì bạn có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ vì lý do cưỡng bức lao động.  Chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này thì bạn chỉ cần báo trước với người sử dụng lao động ít nhất 3 ngày là hợp pháp.
Chúc bạn may mắn!

 

Ý kiến bổ sung thứ nhất:

Theo như những thông tin mà chị cung cấp thì chị đã làm việc tại công ty V 24h từ tháng 1/1/2013 cho đến tháng cuối tháng 6 như vậy chị đã làm việc tại công ty trên 3 tháng theo quy định tại Bộ luật lao động năm 2012 thì khi tiến hành làm việc trên 3 tháng phải kí hợp đồng lao động bằng văn bản. Nhưng theo như chị trình bày thì công ty không ký hợp đồng lao động với chị. Để chứng minh chị có làm việc tại công ty thì chị cần có hóa đơn thanh toán tiền lương hàng tháng từ khi chị đi làm, bảng lương mà công ty trả cho các công nhân.

việc chị bị cho nghỉ việc là sai quy định của pháp luật, nhưng để chứng minh cho việc cho chị nghỉ việc là sai thì chị cần có giấy tờ chứng minh cho việc chị bị cho nghỉ việc là sai như quyết định sa thải, thông báo nghỉ việc… khi có các giấy tờ này thì chị mới có căn cứ để tiến hành khởi kiện do việc cho nghỉ việc là sai.

Trong trờng hợp của chị không có hợp đồng lao động, không có quyết định cho nghỉ việc mà chỉ là việc giám đốc gọi điện thoại yêu cầu nghỉ việc nên chưa có đủ căn cứ để cho chị có thể khởi kiện. Và khi khởi kiện thì chị có khả năng bị tòa trả lại đơn, không thụ lý và lại tốn kém nên trong trường hợp của chị có thể đến công ty yêu cầu công ty trả lương trong thời gian chị nghỉ làm và thời gian chị đi làm một tuần. Nếu công ty không trả thì xin công ty xác nhận là chưa trả lương cho chị và yêu cầu công ty đóng dấu xác nhận khi đó chị sẽ có căn cứ để khởi kiện đòi thanh toán tiền lương chưa trả cho người lao động.

Chúc chị sẽ đòi lại được những quyền lợi của mình.

 

Ý kiến bổ sung thứ hai:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới cho chúng tôi! Câu hỏi của bạn chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

- Về vấn đề của bạn, bạn đã làm việc được hơn 1 năm tại công ty V24h mà không có hợp đồng lao động. Vì vậy, để yêu cầu công ty bồi thường cho bạn, bạn phải chứng minh được khoảng thời gian đó bạn làm việc cho công ty. Vì bạn không có hợp đồng lao động, bạn cần thu thập bằng chứng, ví dụ như chữ ký của bạn trong sổ thanh toán lương của công ty. Các tài liệu, chứng cứ chứng minh những công việc của bạn làm cho công ty trong thời gian đó. Bạn có thể nhờ các đồng nghiệp cho công ty đứng ra làm chứng cho bạn. Lời khai của họ có thể dùng làm chứng cứ.

Nếu bạn không đưa ra được chứng cứ, có một giải pháp khác là bạn có thể trao đổi với các đồng nghiệp không được ký hợp đồng lao động như bạn, cùng yêu cầu công ty ký hợp đồng và bồi thường. Tranh chấp cá nhân của bạn bây giờ sẽ là tranh chấp lao động tập thể, giải quyết theo trình tự, thủ tục về tranh chấp lao động tập thể theo quy định của pháp luật.

- Về vấn đề khởi kiện: đối với tranh chấp lao động cá nhân về việc chấm dứt hợp đồng lao động, bạn có thể khởi kiện ra Toà án. Điểm a, khoản 1, điều 201, Bộ luật lao động năm 2012 qui định như sau:

“1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”

Như vậy trường hợp này bạn có thể khởi kiện trực tiếp ra Tòa án nhân dân cấp huyện (quận) nơi công ty bạn đang đặt trụ sở về việc công ty sa thải bạn. Cùng với đơn khởi kiện bạn cũng phải cung cấp cho tòa án các giấy tờ, chứng cứ liên quan tới việc công ty sa thải bạn.

Trân trọng.!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;