Sự việc bị sếp phát hiện và chụp lại toàn bộ cuộc trò chuyện của anh chị em trong công ty. Sau đó sếp đã đuổi việc tất cả nhân viên với lý do nói xấu, bôi nhọ công ty và không trả lương cho nhân viên và dọa sẽ kiện. E muốn hỏi  là trong trường này nhân viên có bị coi là nói xấu công ty không? nhân viên có quyền đòi lương không? sếp có đủ tư cách và bằng chứng để kiện không ạ? Và trong trường hợp này nếu kiện thì nhân viên có thể bị xử lý như thế nào ạ?

Em xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn pháp luật lao động của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009

Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình.

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về việc công ty đuổi việc các nhân viên 

Điều 126, Bộ luật lao động quy định về việc áp dụng hình thức kỷ luật lao động sa thải như sau: 

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm mà không có lý do chính đáng

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."

Căn cứ vào quy định trên thì việc công ty bạn muốn áp dụng hình thức kỳ luật sa thải đối với bạn và các nhân viên khác là chưa phù hợp với quy định của pháp luật bởi lẽ:

-Trường hợp của bạn và các nhân viên khác không phải là một trong những trường hợp để người sử dụng xử lý kỉ luật sa thải theo quy định tại điều khoản trên

-Lý do công ty đưa ra để xử lý kỉ luật bạn và các nhân viên khác là không chính đáng vì chỉ dựa vào những đoạn chat của anh mà kết luận anh và các nhân viên khác nói xấu, bôi nhọ công ty là chưa đủ cơ sở. Hơn nữa, nếu muốn xử lý kỉ luật thì hành vi vi phạm phải được quy định trong nội quy lao động của công ty và việc kỷ luật phải tuân thủ theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định. 

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn và các nhân viên khác có thể làm đơn khiếu nại đến ban lãnh đạo công ty yêu cầu giải quyết. Nếu không được giải quyết thỏa đáng, bạn và các nhân viên khác có quyền yêu cầu Hòa giải viên lao động hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết căn cứ vào quy định tại điều 200, Bộ luật lao động 2012. 

Trong trường hợp này, nếu công ty vẫn chấm dứt HĐLĐ đối với bạn và các nhân viên khác thì công ty đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật và phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại điều 42, bộ luật lao động 2012, cụ thể như sau: 

"1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước" 

Thứ hai, về việc sếp bạn có thể kiện hay không?

Sếp bạn  hoàn toàn có thể kiện bạn và các nhân viên khác về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác. Tuy nhiên bạn và các nhân viên khác có bị truy cứu trách nhiệm hay không thì còn tùy thuộc vào nội dung đoạn chat và mức độ nghiêm trọng của việc nói xấu sếp bạn trên mạng xã hội (hành vi này có xâm phạm danh dự, nhân phẩm, làm mất uy tín của sếp hay không? )

Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác tùy thuộc vào mức độ mà có thể bị xử lý như sau:

-Xử phạt vi phạm hành chính: 

Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình. Điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

....

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

-Yêu cầu bồi thường thiệt hại

Ðiều 604 Bộ luật Dân sự quy định: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm  được xác định theo Ðiều 611 Bộ luật Dân sự: Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

- Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại điều 121, Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009. Theo đó: 

"1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm" 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn điều kiện sa thải theo luật lao động, gọi:  1900.1940  hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê