Công ty phải dùng xe khác để tiếp tục hoạt động (xe này cũng là xe thuê nhưng chưa có khách tháng sử dụng chỉ đi khách thuê lẻ, một tháng hoạt động khoảng 15 ngày) và trả chi phí thuê xe cho xe bi hỏng (xe thuê theo năm, xe không hoạt động vẫn phải trả phí) Số tiền công ty bất tôi phải trả là 48 triệu.Bao gồm chi phí thuê xe thay thế là 42 triệu, trên lệch lợi nhuận giữa xe bị hỏng và xe thay thế là 6 triệu (xe thay thế có giá trị thấp hơn xe bị hỏng nên lợi nhuận cho thuê thấp hơn). Luật sư cho tôi hỏi, công ty bất tôi bồi thương như vậy có hợp pháp hay không, tôi có phải bồi thường toàn bộ số tiền trên hay không. Trong trường hợp tôi không có khả năng chi trả thì xử lý như thế nào.

Chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động Công ty Luật MInh Khuê.

Luật sư lao động gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13  

Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 

Nội dung phân tích:

Bộ luật lao động năm 2012 có các quy định sau:

Điều 130. Bồi thường thiệt hại

1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Điều 131. Nguyên tắc và trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại

1. Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động.

2. Trình tự, thủ tục, thời hiệu xử lý việc bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, bạn đã gây thiệt hại đến tài sản của công ty với tổng giá trị thiệt hại, các chi phí sửa chữa liên quan lên đến 48 triệu đồng, do vậy nếu hợp đồng lao động hay nội quy công ty quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây thiệt hại đến tài sản của công ty thì bạn phải bồi thường theo quy định đó. Tuy vậy, nếu không có quy định, do mức thiệt hại này quá lớn nên công ty sẽ phải xem xét mức độ bồi thường đối với bạn đến hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của bạn xem có đủ khả năng chi trả hay không.

Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định về Nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Và công ty bạn sẽ được phép khấu trừ dần số tiền lương hàng tháng để bồi thường thiệt hại cho công ty theo điều 101 Bộ luật lao động:

Điều 101. Khấu trừ tiền lương

1. Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 130 của Bộ luật này.

2. Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.

3. Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập.

Do vậy, bạn nên thỏa thuận lại với công ty để có thể xem xét giảm mức bồi thường trách nhiệm nếu số tiền bồi thường quá lớn, vượt quá khả năng chi trả của bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật lao động.