Sau khi kết thúc hợp đồng THỬ VIỆC ngày 29/01/2016 ( em kí ngày 30/11/2015 ). Em xin thôi việc, lúc này Công Ty không cho, còn nói đã làm qua 29/01/2016 là công ty tự động gia hạn, nhưng theo em biết, nếu vậy thì trước 1 tuần hết hợp đồng công ty phải cho em biết kết quả thử việc ra sao, có tiếp tục không. Công ty im lặng đến khi em nghỉ việc thì không cho, và yêu cầu làm thêm 16 ngày nữa, để bàn giao công viêc, dù đã có người thế vị trí Quản Lý. Ngày 16/02/2016 người Công Ty xuống kiểm thì mất 32 món hàng. Ngày 15/03/2016 báo tổng hàng mất là 14 triệu 500 ngàn đồng. và yêu cầu em xác nhận mail để bồi thường, em không xác nhận cũng xem như là em đồng ý. Em thấy không hợp lý, vì khi em tiếp nhận Cửa Hàng thì giao là người của Công Ty kiểm hàng chứ không phải bản thân em, lúc kiểm hàng có hành vi gian lận do nhân viên cũ, em không biết là ai, nhưng khi kiểm gần xong công ty mới báo, và lờ đi, không kiểm lại lần 2, và bắt em ký xác nhận vô , dù em không đứng ra kiểm, lúc giao trả Cửa Hàng để nghỉ việc cũng vậy, người Công Ty xuống kiểm, rồi báo mất 32 món, lại tiếp tục bắt em ký, Sau 1 tháng ( 15/03/2016 ) báo tổng đền bù là 14 triệu 500 ngàn đồng và nói là do nhân viên lấy. Họ có trả em 10 ngày lương làm thêm, và giam lại 6 ngày, nhưng 10 ngày lương họ trả họ* tính theo lương thử việc* ( tức là 2 tháng trả lương thử việc và họ trả thêm 10 ngày lương thử việc khi bắt em ở lại làm thêm, giam lại phần còn lại ) Em thấy sự việc có nhiều khúc mắt xin nhờ luật sư tư vấn dùm em. Em có phải bồi thường thiệt hại không? Vì khi em đã hết hợp đồng thử việc và công ty không chứng minh được là tại sao mất hàng, cũng như khi giao hàng ký nhận bàn giao là đã ngoài thời gian của hợp đồng Thử Việc.

Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao độnggọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

1. Cơ sở pháp luật:

- Bộ luật lao động năm 2012

- Bộ luật dân sự năm 2005

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

- Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động

2. Nội dung tư vấn.

Thứ nhất, về việc bạn có phải bồi thường thiệt hại hay không mặc dù đã ngoài thời gian thử việc ?

Trước hết, giữa bạn và công ty có giao kết hợp đồng thử việc. Theo Điều 26 BLLĐ năm 2012:

Điều 26. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

về thời gian thử việc thì Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Như vậy,  khi hết hợp đồng thử việc nhưng bạn và công ty vẫn chưa giao kết hợp đồng lao động  vì vậy vẫn chưa phát sinh quan hệ lao động. Tới ngày 29/1/2016 bạn viết đơn xin nghỉ . Như vây hợp đồng lao động của bạn không mặc nhiên coi là hợp đồng chính thức được. Vì vậy bạn có thể nghỉ việc mà không cần phải báo trước 30 ngày. 

Ngoài ra, theo điều 29 BLLĐ năm 2012:

"Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

Chính phủ ban hành Nghị định  05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động cụ thể tại điều 7
Điều 7. Thông báo kết quả về việc làm thử 

1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động. 

Như vậy, trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc, công ty bạn phải thông báo cho bạn về kết quả công việc mà bạn đã làm thử, trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, công ty phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động. 

Tuy nhiên, bạn đã xin nghỉ, điều này là đúng luật vì "mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận". Còn về phía công ty không thông báo về kết quả thử việc, yêu cầu bạn làm thêm 16 ngày nữa là trái quy định của pháp luật

Vì bạn và công ty không ký một hợp đồng lao động mới nên giữa hai người sẽ tồn tại mối quan hệ dân sự. Theo công ty bạn có đày đủ căn cứ chứng minh hành vi của bạn thì công ty sẽ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 260 BLDS năm 2005

"Điều 260. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại

Như vậy, nếu công ty có đầy đủ chứng cứ thì công ty hoàn toàn có quyền yêu cầu bạn phải bồi thường thiệt hại. Còn nếu chưa đủ chứng cứ thì bạn sẽ không phải bồi thường

Thứ hai, vấn đề công ty đã giam bạn

Hành vi này là trái pháp luật. Công ty đã vi pham quyền cơ bản của bạn đó là quyền tự do đi lại quy định trong Hiến pháp

Đối với hình thức tạm giam thì chỉ có những người có thẩm quyền mới được tiến hành theo quy định trong BLTTHS năm 2003

"Điều 88. Tạm giam

1. Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;

b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

2. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;

b) Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;

c) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

3. Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

4. Cơ quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết"

Như vậy, công ty bạn không được phép giam bạn, bạn có thể khởi kiện để có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình
2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư​ lao động.