1. Nếu công ty tôi đang làm giải thể thì công ty có nghĩa vụ báo trước với người lao động hay không ?

2. Theo luật Lao động Việt Nam thì công ty có nghĩa vụ trợ cấp gì cho người lao động không ?

3. Tôi tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 10 năm 2014 và bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 1 năm 2015. Vậy nếu công ty tuyên bố giải thể vào ngày 1 tháng 12 năm 2015 thì tôi có được hưởng trợ cấp thất nghiệp hay không ?

Tôi xin cảm ơn !

Người gửi : B.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

  Các khoản trợ cấp mà người lao động được hưởng sau khi doanh nghiệp giải thể ?

 Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Khuê chúng tôi. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau :

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động 2012

Luật việc làm 2013. 

Luật doanh nghiệp 2014. 

Nội dung tư vấn:

1) Về nghĩa vụ báo trước với người lao động của công ty bạn khi tiến hành giải thể :

Khoản 1, điều 201, luật doanh nghiệp 2014 quy định về các trường hợp giải thể :

“1. Doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau đây :

a) Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;

b) Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;

c) Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;

d) Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.”

Nếu công ty của bạn giải thể theo các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 201 trên thì việc tiến hành báo trước với người lao động sẽ thực hiện theo khoản 3, điều 202, luật doanh nghiệp 2014:

“3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp, đăng quyết định giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp.”

Nếu công ty của bạn giải thể trong trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 201 trên thì sẽ  được thực hiện theo trình tự, thủ tục theo khoản 2, điều 203, luật doanh nghiệp 2014 :

“2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực, doanh nghiệp phải triệu tập họp để quyết định giải thể. Quyết định giải thể và bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính và chi nhánh của doanh nghiệp. Đối với trường hợp mà pháp luật yêu cầu phải đăng báo thì quyết định giải thể doanh nghiệp phải được đăng ít nhất trên một tờ báo viết hoặc báo điện tửt rong ba số liên tiếp.”

Như vậy, công ty của bạn phải có nghĩa vụ thông báo với người lao động khi công ty của bạn tiến hành làm giải thể.

2) Về nghĩa vụ trợ cấp cho người lao động theo luật lao động Việt Nam khi công ty của bạn giải thể:

Khoản  7, điều 36, bộ luật lao động 2012 quy định :

“ Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.”

Vậy, hợp hợp đồng lao động giữa công ty bạn và người lao động trong công ty sẽ chấm dứt khi công ty của bạn chấm dứt hoạt động, cụ thể là sau khi hoàn thành thủ tục giải thể theo quy định của pháp luật.

Khoản 1, điều 48 và khoản 1, điều 49, bộ luật lao động 2012 quy định:

“ Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1.Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.”

“ Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.”

Do đó, nếu thỏa mãn các điều kiện nêu tại điều 48; điều 49 trên, người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm.

Cụ thể, hợp đồng lao động giữa công ty bạn và người lao động trong công ty chấm dứt theo quy định tại các khoản 7, Điều 36 nên nếu người lao động trong công ty bạn đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên thì sẽ được công ty bạn chi trả trợ cấp thôi việc khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại khoản 1, điều 48, bộ luật lao động 2012.

Công ty của bạn sẽ không có trách nhiệm phải chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động trong công ty khi hợp đồng lao động chấm dứt vì trách nhiệm này chỉ đặt ra trong trường hợp người lao động bị mất việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại điều 44 và 45, bộ luật lao động 2012. Cụ thể :

" Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

“Điều 45. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã

1. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động trước đó phải lập phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

3. Trong trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều này, thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này ”.

3) Về việc bạn có hay không được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi công ty của bạn tuyên bố giải thể :

Điều 49, luật việc làm 2013 quy định :

“ Người lao động quy định tại khoản 1, Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây :

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1, điều 46 của luật này.

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.”

Do vậy, để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì bạn phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện nêu trên.

Theo như bạn nói thì bạn đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 1/2015 và công ty của bạn tuyên bố giải thể vào ngày 1/12 /2015. Ngày tuyên bố giải thể cũng là ngày công ty của bạn chấm dứt hoạt động và đồng thời hợp đồng lao động giữa bạn với công ty cũng chấm dứt.

Như vậy, tính đến ngày 1/12/2015 thì bạn mới tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp được 11 tháng kể từ tháng 1/2015. Trong khi, một trong những điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp là thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp phải từ đủ 12 tháng trở lên trước khi chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, trong trường hợp này bạn sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp sau khi hợp đồng lao động giữa bạn và công ty của bạn chấm dứt.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT LAO ĐỘNG