Ngày 13/05/2015 Tôi nhận quyết đinh chấm dứt hợp đồng số 36/2015/QĐ-NS. Trong quyết định này không nêu lý do chấm dứt hợp đồng với Tôi. Ngày 15/05/2015 tôi có gửi mail hỏi phòng nhân sự và giám đốc công ty lý do công ty chấm dứt hợp đồng lao động với tôi. Họ trả lời bằng mail là: 1/ ngủ trong giờ làm việc (thời gian trước đó, trong giờ làm ca 3, do mệt và buồn ngủ, nên tôi ngủ lúc nào không hay, giám đốc công ty xem camera bắt được có nhắc nhở bằng miệng với tôi không được tái phạm lần sau và tôi đã hứa là sẽ không tái phạm lần sau). 2/ sử dụng điện thoại trong giờ làm việc ( không có nhắc nhở). Tôi muốn hỏi:

1: Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với tôi như vậy có đúng pháp luật không ?

2: Trong trường hợp công ty đơn phương trái pháp luật thì bồi thường với tôi như thế nào ?

3: Hợp đồng lao động của tôi đến ngày 12/07/2015 là chấm dứt, trong trường hợp công ty đền bù những ngày không được làm việc thì sẽ được tính đến ngày toà án xử hay là đến ngày hết hạn hợp đồng ?. Tôi xin chân thành cảm ơn!.

Người gửi R.E

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê

cách giải quyết việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

 Luật sư tư vấn Luật lao động gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới Công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Với những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin được tư vấn với bạn như sau

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động 2012 

Nội dung tư vấn:

1: Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với tôi như vậy có đúng pháp luật không ?

Bộ luật lao động 2012 quy định người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong những trường hợp sau

* Thứ nhất là theo quy định tại điều 38 BLLĐ

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này"

* Thứ hai là người lao động bị sa thải theo quy định tại Điều 126 BLLĐ

Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

"1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động".

Như vậy, Việc  Công ty đưa ra lý do đơn phương chấm dứt HĐLĐ như vậy là không đúng theo quy định của pháp luật. Vì như bạn nói lí do là ngủ trong giờ làm việc (thời gian trước đó, trong giờ làm ca 3, do mệt và buồn ngủ, nên bạn ngủ lúc nào không hay, giám đốc công ty xem camera bắt được có nhắc nhở bằng miệng với bạn  không được tái phạm lần sau và bạn đã hứa là sẽ không tái phạm lần sau); sử dụng điện thoại trong giờ làm việc ( không có nhắc nhở).

2: Trong trường hợp công ty đơn phương trái pháp luật thì bồi thường với tôi như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 42 BLLĐ thì nếu công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì công ty phải thực hiện theo 1 trong những nội dung sau:

- Phải nhận bạn trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết và trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngyaf bạn không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ

- Nếu bạn không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài việc bồi thường 02 tháng tiền lương thì công ty còn phải chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48

- Nếu công ty không muốn nhận bạn và bạn đồng ý thì ngoài khoản bồi thường 02 tháng tiền lương, tiền trợ cấp thôi việc thì bạn và công ty có quyền thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm, nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo HĐ để chấm dứt HĐLĐ

- Nếu không còn vị trí công việc đã giao trong hợp đồng mà bạn vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường là 02 tháng tiền lương thì bạn và công ty  có thể thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng.

3: Hợp đồng lao động của tôi đến ngày 12/07/2015 là chấm dứt, trong trường hợp công ty đền bù những ngày không được làm việc thì sẽ được tính đến ngày toà án xử hay là đến ngày hết hạn hợp đồng.

Việc công ty đền bù những ngày không được làm việc sẽ được tính đến ngày Tòa án xử vì nếu Tòa án ra quyết định yêu cầu công ty bồi thường cho bạn trước ngày 12/07/2015 thì khoảng thời gian từ ngày có quyết định của Tòa án tới ngày chấm dứt hợp đồng bạn sẽ được công ty bồi thường.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi dành cho quý khách hàng. Ý kiến tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật và thông tin mà khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra sự tư vấn là để cá nhân và tổ chức tham khảo.

TRÂN TRỌNG./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT LAO ĐỘNG