Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật lao động năm 2012

Nghị định 95/2013/NĐ-CP

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Điều 111 của Bộ luật lao động năm 2012 có quy định về ngày nghỉ hằng năm cụ thể như sau:

Điều 111. Nghỉ hằng năm

1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.

3. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

4. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.

Như vậy đối với công việc trong điều kiện làm việc bình thường thì 1 năm sẽ được nghỉ 12 ngày phép năm hưởng nguyên lương. Người lao động có thể nghỉ hàng năm theo chế độ của mình được hưởng trong năm. Nếu người lao động không nghỉ hằng năm có quyền yêu cầu người sử dụng lao động chi trả số tiền nghỉ hằng năm được hưởng vào tiền lương tiền công tháng của mình. Pháp luật còn có những quy định cụ thể về việc tri trả cách tính và mức xử phạt nếu người lao động nghỉ mà người sử dụng lao động không thực hiện nghĩa vụ của mình chi trả tiền nghỉ hàng năm cho người lao động.

Đồng thời lưu ý, về nguyên tắc là phép năm không dùng hết phải được trả tiền. Và tiền phép năm này sẽ tính theo từng năm (hết năm nào thì phải trả cho năm đó). Như vậy, việc 08 năm nay công ty chưa trả phép cho người lao động là sai quy định.

Trường hợp công ty không chi trả các khoản tiền lương thanh toán cho những ngày chưa nghỉ phép này (các khoản tiền lương phải trả khi người lao động ngừng việc), nếu bị kiểm tra phát hiện thì có thể bị xử phạt theo quy định sau:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

(Xem chi tiết tại Khoản 3 Điều 13 Nghị định 95/2013/NĐ-CP)

Dù hiện nay, cũng có quy định về việc cộng dồn ngày phép cho người lao động, tức cho phép người lao động và người sử dụng lao động được thỏa thuận nghỉ gộp tối đa 03 năm/lần, nhưng nếu khi hết thời gian này mà người lao động chưa nghỉ hết thì sẽ quay lại nguyên tắc cơ bản ban đầu là phải trả tiền cho người lao động.

Những người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 12 tháng trở lên thì được hưởng theo quy định tai điều 111 Bộ luật lao động năm 2012 nhưng đối với lao động dưới 12 tháng thì thời gian làm việc và thời gian được nghỉ hàng năm tương ứng với thời gian làm việc và tháng người lao động làm việc cho người sử dụng lao động. 

Như vậy dù người lao động có đóng bảo hiểm như thế nào cho người sử dụng lao động thì đều được hưởng những chế độ nhất định tương ứng với thời gian đóng bảo hiểm của người lao động.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi:  1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê