Trong khi trước đó công việc tôi vẫn làm bình thường, chưa một lần lập biên bản khiển trách hay cảnh cáo, cũng chưa có 1 báo cáo nào cụ thể nói tôi không hoàn thành nhiệm vụ (Thật ra tôi biết lý do đằng sau đó là do tôi có cải nhau với vợ của giám đốc, người này không có chức danh gì trong công ty, nhưng chửi tôi nặng lời nên tôi có cải lại 1 vài câu). Công ty cũng không ra quyết định sa thải, mà Phòng hành chính nhân sự kêu tôi nghỉ viêc bắt đầu từ ngay bữa sau đó tức là từ 20/4/2016. Đến nay là 23/9/2016 tức là tôi đã bị đuổi đến nay là hơn 5 tháng rồi. Tôi có nghe một người bạn nói công ty tôi đuổi tôi như vậy là trái luật và nói tôi có thể làm đơn kiện để đòi bồi thường. Vậy xin cho tôi hỏi?: 1. Công ty đuổi tôi như vậy có đúng luật không? 2. Tôi phải làm đơn kiện gửi đi đâu? 3. Tôi có được công ty bồi thường không? Và nếu được bồi thường thì bồi thường như thế nào? mấy tháng lương? bồi thường tính đến hết thời hạn hợp đồng (15/6/2016) hay bồi thường tới thời điểm hiện tại (23/9/2016). vì từ khi đuổi đến nay tôi vẫn chưa đi làm. 4. Nếu tôi làm đơn kiện thì án phi có nhiều không? tôi chịu án phí hay công ty đuổi tôi phải chịu? Rất mong được tư vấn Tôi xin cảm ơn nhiều lắm! 

Câu hỏi đuợc biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Lao động của công ty Luật Minh Khuê 

  Luật sư tư vấn pháp luật lao động  trực tuyến goị : 1900 6162

Nội dung trả lời

 

Chào bạn,cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý 

Bộ luật lao động 2012

2. Nội dung tư vấn

Thứ nhất, về việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật lao động 2012 (BLLĐ) có quy định:

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

Cụ thể hơn, theo quy định của khoản 1 điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định: 

"  Người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở." 

Trong trường hợp của bạn, Người sử dụng lao động lấy lý do bạn không hòan thành công việc để chấm dứt hợp đồng lao động là một lý do hợp lý theo quy định của pháp luât. Tuy nhiên, vấn đề này cần phải co căn cứ xác minh rõ ràng. 

 Công ty bạn phải  quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Khi đó, người lao động nếu thường xuyên không hoàn thành công việc theo quy chế này sẽ bị công ty bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng. Và trình tự thủ tục đơn phương chấm dứt phải đúng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp của bạn  nếu công ty bạn không quy định quy chế như đã phân tích ở trên thì việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là trái pháp luật. Bởi lẽ Bộ Luật lao động 2012 tôn trọng thỏa thuận của hai bên nhưng quyền lợi người lao động không được thấp hơn luật định.

Thứ hai, bạn có thể gửi đơn kiện đến Toà án Nhân dân cấp Huyện nơi có trụ sở của công ty bạn muốn kiện 

Đây là tranh chấp lao động cá nhân nên theo khoản 1 điều 201 Bộ Luật Lao Động, Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

“a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Trường hợp của bạn liên quan đến vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì thế bạn  có thể kiện công ty ra tòa. 
Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Thứ ba, về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 

theo quy định tại điều 42 ( BLLĐ) 

"1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Như vậy, trường hợp của bạn hòan tòan có thể được bồi thường theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể hơn về trợ cấp thôi việc được quy định tại điều 48 ( BLLĐ)

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việ

3.Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc 

Thứ tư, về vấn đề án phí 

1/ Án phí dân sự bao gồm án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí dân sự phúc thẩm.

2/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng.

3/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự có giá ngạch được quy định như sau:

Mức án phí: 

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống (Mức án phí: 200.000 đồng)

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng (Mức án phí:5% giá trị tài sản có tranh chấp)

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng (Mức án phí: 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng)

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng (Mức án phí:36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng)

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng (Mức án phí: 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng)

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng (Mức án phí: 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.)

Mức đóng tiền tạm ứng án phí: được quy định tại Khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 :

"Điều 11. Miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí

Những trường hợp sau đây được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí:

1. Người khởi kiện vụ án hành chính là thương binh; bố, mẹ liệt sỹ; người có công với cách mạng.

2. Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;"

 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động.