Anh D đề nghị Công ty gia hạn hợp đồng lao động, nhưng lãnh đạo công ty không giải quyết?  việc công ty A chấm dứt hợp đồng lao động với anh D là đúng hay sai? Nếu đúng, nêu rõ căn cứ pháp lý? Nếu sai, anh D phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Khi đó, quyền lợi của anh D là gì?

Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật lao độngcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Chấm dứt hợp đồng lao động với chủ tịch công đoàn cơ sở ?

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012

2. Luật sư tư vấn:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu thì thời hạn chấm dứt hợp đồng của anh D là ngày 31/12/2014.Theo quy định của Bộ luật lao động 2012, trường hợp hết thời hạn hợp đồng thì các bên người sử dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192:

"Khi người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ."

Do đó, việc chấm dứt hợp đồng của công ty với anh D là không phù hợp với quy định của pháp luật. Anh D có thể yêu cầu người sử dụng lao động bồi thường cho mình theo theo quy định của Bộ luật lao động 2012:

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Nếu người sử dụng lao động không tiến hành bồi thường thì anh D có thể khởi kiện ra tòa án nhân dân nơi công ty có trụ sở để yêu cầu tòa án giải quyết.

Tham khảo bài viết liên quan:

Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Quyền lợi của người lao động khi có hợp đồng lao động?

Hoàn thiện quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Emailu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động.