Công ty đã đưa tôi đi cấp cứu và trả toàn bộ các chi phí đầy đủ, sau khi thương tật ổn định Công ty bố trí cho tôi việc làm nhẹ nhàng chỉ ngồi bấm nút thang máy vận hành cho đến nay. Tuy nhiên sau khi thương tật ổn định tôi cũng có hỏi về chế độ tai nạn lao động, công ty có trả lời do tại thời điểm này tôi đang trong thời gian học nghề nên chưa tham gia BHXH, nay Công ty bố trí việc làm nhẹ nhàng để tạo công ăn việc làm cho tôi nên tôi cũng không hỏi nữa. Do không hiểu biết rõ ràng nên tôi chấp nhận làm đến nay bây giờ Công ty cho tôi đi giám định với mức thương tật 45% và thanh toán trợ cấp đầy đủ cho tôi đến thời điểm và thỏa thuận với tôi chấm dứt HĐLĐ. Công ty làm như vậy đối với tôi đúng hay sai, xin Luật sư tư vấn giúp tôi?

Xin cám ơn!

Người gửi: Hậu

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi:  1900.1940

Tư vấn chế độ tai nạn lao động ?

Tư vấn chế độ tai nạn lao động  - Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi, vấn đề của bạn, Luật Minh Khuê xin được trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý:  

Bộ luật lao động năm 2012

Thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

2. Nội dung:

Theo những thông tin mà bạn đưa ra thì bạn vào Công ty A từ ngày 16/02/2005 và ký Hợp đồng lao động   với thời gian học nghề 06 tháng mới được tham gia BHXH bắt buộc. Như vậy, trong nội dung hợp đồng giữa bạn và công ty có điều khoản về học nghề trong thời gian 6 tháng. Nhưng nếu công ty của bạn làm 2 hợp đồng dưới tên là Hợp đồng lao động thì việc học nghề xong là điều kiện để hợp đồng lao động giữa 2 bên có hiệu lực pháp luật.

- Theo quy định  tại Điều 142 Bộ luật lao động 2012:

“1. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Quy định này được áp dụng đối với cả người học nghề, tập nghề và thử việc.

2. Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo.

3. Tất cả các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các sự cố nghiêm trọng tại nơi làm việc đều phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của Chính phủ.”

Và Điểm 4, mục I, thông tư 10/ 2003/TT-BLĐTBXH:

“4. Người lao động quy định tại điểm 1, điểm 2, điểm 3 mục này bao gồm cả người học nghề, tập nghề để làm việc tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức cũng thuộc đối tượng thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.”

Như vậy việc bồi thường, trợ cấp khi bị tai nạn lao động cũng được áp dụng đối với người học nghề,, nghĩa là dù bạn đang trong thời gian học nghề mà bạn bị tai nạn được xác định là tai nạn lao động theo điểm 2.1 của Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN của Liên tịch Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn LĐVN

“a, TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ luật Lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc).

b, Tai nạn được coi là TNLĐ trong các trường hợp sau: Tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi và về trực tiếp giữa nơi làm việc và nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người lao động; nơi người lao động đến nhận tiền lương, tiền công.

Tai nạn xảy do những nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn xảy ra tại nơi làm việc.

Tất cả những trường hợp trên phải được thực hiện ở địa điểm và thời gian hợp lý.”    thì bạn vẫn được hưởng các quyền lợi về tai nạn lao động theo quy định của pháp luật cụ thể:

- Theo Điều 144 Bộ luật lao động 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:

“1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.”

Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.”

Ngoài ra theo quy định tại mục II Thông tư 10/ 2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp quy định tuy nhiên có điều kiện:

* Bồi thường:

- Điều kiện để người lao động được bồi thường:

Đối với tai nạn lao động:

Người lao động bị tai nạn lao động theo quy định tại Khoản a, điểm 1 nêu trên nếu nguyên nhân tai nạn lao động xảy ra do lỗi của người sử dụng lao động theo kết luận của biên bản điều tra tai nạn lao động.

Việc bồi thường được thực hiện từng lần. Tai nạn lao động xảy ra lần nào thực hiện bồi thường lần đó, không cộng dồn các vụ tai nạn đã xảy ra từ các lần trước đó…

- Mức bồi thường:

Mức bồi thường tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Khoản b nêu trên được tính như sau:

Ít nhất bằng 30 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10% sau đó nếu bị suy giảm khả năng lao động từ trên 10% đến dưới 81% thì cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

* Trợ cấp:

- Người lao động bị tai nạn lao động trong các trường hợp sau thì được trợ cấp:

Tai nạn lao động theo quy định tại Khoản a, điểm 1 nêu trên nhưng do lỗi trực tiếp của người lao động theo kết luận của Biên bản điều tra tai nạn lao động;

Tai nạn được coi là tai nạn lao động là tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở hoặc tai nạn do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, hoả hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn xảy ra tại nơi làm việc.

Việc trợ cấp được thực hiện từng lần. Tai nạn lao động xảy ra lần nào thực hiện trợ cấp lần đó, không cộng dồn các vụ tai nạn đã xảy ra từ các lần trước đó.

- Mức trợ cấp:

Mức trợ cấp tai nạn lao động được tính như sau:

Ít nhất bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc chết do tai nạn lao động;

Ít nhất bằng 0,6 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10%, nếu bị suy giảm khả năng lao động từ trên 10% đến dưới 81% thì theo công thức dưới đây hoặc tra bảng tính bồi thường, trợ cấp theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 5% đến tử vong.

Như vậy, bạn vẫn được hưởng các quyền khi bị tai nạn lao động như trên, nếu công ty chỉ chi trả viện phí cho bạn thì chưa đủ mà mới chỉ thực hiện được một phần trách nhiệm của công ty như điều 144 Bộ luật lao động 2012.

Trân trọng ./.

Bộ phận luật sư tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê 

--------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư tư vấn pháp luật lĩnh vực luật lao động;

5. Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án;

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;

7. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án;

8. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;