Nhưng từ 1/1/2010 đến 31/3/2015 tôi đã tham gia vào việc đóng bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp, với mức lương trung bình 6 tháng liền kề hiện nay là 3 triệu mỗi tháng. Do công ty tôi mỗi năm là ký hợp đồng lao động 1 lần, mà những hợp đồng mấy năm về trước tôi không có giữ để lưu lại, chỉ giữ hợp đồng lao động của năm 2015 thôi.
Vậy cho tôi hỏi khi tôi nghỉ việc có được hưởng chế độ nào không? Sẽ được tính như thế nào? Nếu công ty không giải quyết chế độ nào thì tôi phải làm sao?

Tôi xin cảm ơn!

Người hỏi: N.V.Y Nhi

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012.

2. Giải quyết tình huống:

 Theo quy định tại Điều 36 Luật lao động 2012 quy định về Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như sau:  

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

Theo quy định tại Điều 37 Luật lao động 2012 về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Theo quy định  Điều 48 Luật lao động 2012 về Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Trường hợp bạn xin nghỉ và báo trước 30 ngày, theo khoản 9 điều 36 và điều 37 Luật lao động 2012, thì công ty sẽ giải quyết cho bạn với chế độ thôi việc. Khi việc bạn xin nghĩ việc bạn sẽ được hưởng các chế độ:

- Công ty sẽ phải trả tiền lương cho bạn đến ngày bạn nghỉ, tiền nợ lượng, tiền thưởng.

- Trả sổ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

- Trợ cấp thôi việc.

Khi công ty không giải quyết các chế độ cho bạn khi bạn nghỉ việc, theo điều 200 Bộ luật lao động 2012, cơ quan có thẩm quyền giải quyết bạn có thể chọn là hòa giải viên lao động và tòa án nhân dân. Với việc giải quyết bằng tòa án nhân dân bạn không cần phải trải qua bước hòa giải cơ sở theo quy định tại điều 201 Bộ luật lao động 2012.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê