Tiền lương chi trả lấy từ quỹ dự phòng và tiền cho thuê mặt bằng chia cho những người ở lại được 2.000.000đ/tháng, tới tháng 4/2016 quỹ này cũng hết. Giám đốc thông báo bằng miệng là ai muốn ở lại thì tự đóng BHXH, ai muốn nghỉ thì xin thôi việc đi tìm việc mới, việc làm này của Giám đốc có đúng hay không? Đến đầu tháng 8/2016, Giám đốc ra công văn thông báo đến hết tháng 9/2016 nếu không kiếm được Hợp đồng sẽ buộc thôi việc hết. Vậy cho tôi xin hỏi: do bức xúc việc không có lương 4 tháng và phải tự đóng BHXH tôi làm đơn xin nghỉ vào ngày 14/9/2016 để tìm công việc khác. Chi nhánh khi chi trả trợ cấp chỉ tính cho tôi mỗi năm 1/2 tháng lương, trường hợp của tôi có được lĩnh tiền trợ cấp mất việc làm và được thanh toán mỗi năm 1 tháng lương hay không?

Xin chân thành cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động, gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Lao động năm 2012 

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 

2. Nội dung tư vấn

Thứ nhất, theo thông tin mà bạn cung cấp, cho đến thời điểm tháng 4/2016, nhân viên của công ty bạn đã thôi việc gần hết, số còn lại là lao động đã làm việc trong thời gian dài tại công ty và vẫn đang được đóng BHXH. Đây là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2014. Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật BHXH, người sử dụng lao động có trách nhiệm "Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của ng­ười lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội". Do đó, công ty bạn phải có trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ làm việc tại công ty mình. Một trong những hành vi bị Luật BHXH nghiêm cấm là trốn đóng BHXH quy định tại Điều 17. Việc Giám đốc thông báo người lao động phải tự đóng BHXH là sai theo quy định của pháp luật hiện hành. 

Thứ hai, bạn hỏi về tiền trợ cấp mà bạn được hưởng khi thôi việc. Theo thông tin mà bạn cung cấp thì đơn thôi việc của bạn được công ty bạn chấp thuận, do đó đây là trường hợp chấm dứt hợp đồng do hai bên thỏa thuận theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLLĐ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 BLLĐ:

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương."

Căn cứ theo quy định trên thì bạn là đối tượng được chi trả trợ cấp thôi việc với mức: mỗi năm làm việc được trợ cấp 1/2 tháng lương. 

Về vấn đề trợ cấp mất việc làm, khoản 1 Điều 49 BLLĐ quy định:

"Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương."

Ở đây, bạn cần lưu ý, bạn chấm dứt hợp đồng lao động là do thỏa thuận của hai bên như đã nói ở trên chứ không thuộc trường hợp mất việc làm do công ty thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế (Điều 44) hay khi  sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp (Điều 45). Do đó, bạn không đủ điều kiện hưởng trợ cấp mất việc làm.

Như vậy, việc giải quyết quyền lợi của công ty về vấn đề trợ cấp cho bạn khi thôi việc là đúng theo quy định của pháp luật lao động.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900 6162  hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê