Trong thông báo, Công ty cho tôi làm thêm 30 ngày nữa rồi bàn giao công việc. Ý là công ty có thông báo trước cho tôi thời hạn chấm dứt hợp đồng là 30 ngày. Xin hỏi: trong trường hợp này, công ty có phải trả trợ cấp mất việc cho tôi không ? Xin cám ơn !

Người gửi: Tr.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn Luật Lao động của luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động trực tuyến, gọi:    1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý.

Bộ luật Lao động 2012.

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất, "Công ty có văn bản thông báo rằng: công ty không thể tiếp tục ký hợp đồng nữa do tình kinh doanh khó khăn, cần giảm nhân sự. Trong thông báo, Công ty cho tôi làm thêm 30 ngày nữa rồi bàn giao công việc." Theo thông tin bạn cung cấp thì việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhân viên thuộc vào Điểm c Khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động 2012: "c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;"

Và khi chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 điều 38 người sử dụng lao động phải có trách nhiệm thông báo cho người lao động biết trước ít nhất là 30 ngày đối với hợp đồng xác định thời hạn theo Điểm b Khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động 2012. Ở đây hợp đồng của bạn ký kết với công ty có thời hạn một năm là hợp đồng có xác định thời hạn. Nên khi tiến hành chấm dứt hợp đồng công ty thực hiện như thế là đúng theo quy định của pháp luật. Cụ thể nội dung quy định tại điều 38 Bộ luật Lao động 2012 như sau.

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Khi người sử dụng lao động tiến hành chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012.

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

Thứ hai, bạn hỏi công ty chấm dứt hợp đồng lao động thì có phải trả trợ cấp mất việc cho người lao động hay không? Thì theo quy định trong Bộ luật Lao động 2012 thì việc trả trợ cấp mất việc chỉ được áp dụng đối với trường hợp trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế (Điều 44 Bộ luật lao động 2012); hoặc khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp (điều 45 Bộ luật lao động 2012). Nếu trường hợp công ty cho thôi việc thuộc một trong hai trường hợp này thì công ty phải trả trợ cấp mất việc cho người lao động.

Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.1940  hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê