Trong hợp đồng có bảng mô tả công việc nếu thất thoát hàng hoá sẽ đền 50% giá trị sản phẩm, đính kèm bản hợp đồng. Ngày cuối cùng hết hợp đồng là 29 tức là thứ 6 ngày cuối tuần, trước đó em vẫn không nhận được bảng đánh giá hay gia hạn và do giờ làm việc quá nhiều. Em kí hợp đồng là 8 tiếng/ 1 ngày, 6 ngày/ 1 tuần, tuy nhiên em làm thực tế là 10 đến 14 tiếng/1 ngày. Cấp trên đều biết nhưng không chấm công với lý do là chức vụ Quản Lý không được chấm công thêm giờ, và không có người quản lý trực tiếp, do công ty chính ở Sài Gòn, em ở Cần Thơ, chỉ có 1 người kế toán, chị ta không biết gì về quản lý nên không chỉ dẫn và giúp đỡ em. Sau 2 tháng thử việc, em không đồng ý với giờ làm việc và cách làm việc, nên thứ 2 đầu tuần, tức ngày 01/02/2016, em xin nghỉ việc, và do gần tết em báo trước và hỗ trợ cho công ty thêm 1 tuần, yêu cầu công ty xuống bàn giao. Nhưng công ty không chịu, nói là không kịp tuyển quản lý, tuy nhiên ngày 05/02/2016, em biết tin đã có quản lý mới, đang thực tập tại Cửa Hàng gần đó (ở Cần Thơ có 3 Cửa Hàng), nhưng vẫn không chịu qua bàn giao, và yêu cầu làm làm tới ngày 15/02/2016, để kịp công ty nghỉ tết, mới làm việc được. Ngày 16/02/2016, công ty kiểm hàng tuy nhiên không có mặt em, và kiểm ra thất thoát hàng hoá gần mười mấy triệu, yêu cầu em bồi thường.

Tuy nhiên em thấy không hợp lý. Vì:

Thứ nhất khi em nhận cửa hàng trong thời gian thử việc, người kiểm tra hàng hoá là người của Công ty.

Thứ hai, khi bắt đầu làm việc, công ty biết có nhân viên bán hàng gian dối trong kinh doanh nhưng không đuổi, để ở lại gần cả tháng, sau khi đuổi cũng không cho người kiểm tra hàng hoá, em là người mới, nhưng cũng không ở lại Cửa Hàng suốt. Khoảng thời gian đó không biết có gì xảy ra.

Thứ ba, không ai chỉ em biết cách kiểm hàng, tự mình em làm, dù hàng hoá lên tới hơn 9 nghìn sản phẩm. Vậy luật sư cho em hỏi, em không còn hợp đồng, vậy em có cần bồi thường thiệt hại vật chất cho công ty không? Mong luật sư tư vấn, em xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 

Nội dung phân tích:

Điều 29 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về Kết thúc thời gian thử việc như sau:

"1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.".

Như vậy trong thời gian thử việc từ ngày 30/11/2015 đến 29/01/2016 hai bên hoàn toàn có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường. 

Tuy nhiên, nếu đã quá ngày 29/1/2016 mà công ty vẫn giao việc cho bạn và bạn vẫn làm tức là hợp đồng lao động giữa bạn và công ty được giao kết. Công ty không giao kết hợp đồng lao động chính thức với bạn là đang làm trái quy định của pháp luật.  

Bên cạnh đó, do hợp đồng lao động đương nhiên được xác lập cho nên khi bạn muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì bạn cần tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo điều 37 Bộ luật lao động năm 2012:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.".

Nếu bạn không chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định tại điều 37 tức là đang chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Với việc chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì bạn phải chịu trách nhiệm theo quy định tại điều 43 Bộ luật lao động năm 2012. 

Về việc bồi thường thiệt hại vật chất cho công ty: theo điều 130, điều 131 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

"Điều 130. Bồi thường thiệt hại

1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Điều 131. Nguyên tắc và trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại

1. Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động.

2. Trình tự, thủ tục, thời hiệu xử lý việc bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này.

Đương nhiên, khi công ty yêu cầu bạn bồi thường thiệt hại thì công ty có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bạn và mức độ thiệt hại thực tế của công ty, hoàn cảnh thực tế gia đình, thân nhân và tài sản của bạn. Nếu công ty không chứng minh được lỗi của bạn thì bạn không có trách nhiệm phải bồi thường. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật lao động.