Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

>>  Tư vấn pháp luật về tiền phụ cấp, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Kính gửi Quý khách hàng, với câu hỏi của bạn Công ty Luật Minh Khuê xin được hỗ trợ, giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Bộ Luật lao động năm 2012

- Luật Bảo hiểm xã hội 2006

2. Nội dung tư vấn:

Căn cứ theo Điều 157 Bộ luật Lao động  năm 2012 quy định về chế độ Nghỉ thai sản:

1. Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng.

Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.

2. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

3. Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động.

4. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng.

Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Mức hưởng chế độ thai sản:

Theo quy định tại Điều 34 và Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội  thì người lao động nữ được hưởng Mức trợ cấp 1 lần khi sinh con; mức hưởng chế độ thai sản; chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau khi sinh như sau:

- Lao động nữ sinh con thì được trợ cấp một lần bằng 2 tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

- Người lao động hưởng chế độ thai sản khi sinh con với mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng  bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.

- Trường hợp lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 5 ngày đến 10 ngày trong một năm.

Nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung; phải nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung mức hưởng một ngày bằng 40% mức lương tối thiểu chung.

Như vậy, nếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bạn đáp ứng điều kiện đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu được hưởng chế độ thai sản khi sinh con.

Trong trường hợp bạn đủ điều kiện để được hưởng chế độ thai sản nêu trên, căn cứ theo Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định:

1. Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:

d) Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng bảo hiểm xã hội;

đ) Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động;

Như vậy, công ty nơi sử dụng bạn làm việc, lao động phải có trách nhiệm chi trả trợ cấp thai sản cho bạn và có trách nhiệm thay mặt bạn thực hiện các thủ tục với cơ quan bảo hiểm xã hội để bạn được hưởng chế độ thai sản theo luật định.

Trong trường hợp quyền lợi không đảm bảo, bạn có quyền khiếu nại theo quy định tại Khoản 7 Điều 15 Luật Bảo hiểm xã hội 2006:

Người lao động có các quyền sau đây:

7. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội.

Khoản 1 Điều 130 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định:

 “1. Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và những người khác có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Về thẩm quyền và trình tự thủ tục khiếu nại, Điều 131 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định:

1. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

2. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:

a) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu về bảo hiểm xã hội là người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại.

Trong trường hợp người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có thẩm quyền giải quyết;

b) Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh;

c) Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án;

d) Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.”

Trên đây là những giải đáp, tư vấn từ phía Công ty Luật Minh Khuê cho thắc mắc của bạn. Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ trực tiếp tới Văn phòng để được hỗ trợ, tư vấn.

Trân Trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê