Sau khi em nộp đơn xin nghỉ thì công ty thông báo em chỉ nhận được nửa tháng tiền lương cơ bản do em vào làm 03/2007 nhưng công ty chỉ có hồ sơ ký hợp đồng từ tháng 1/2008, trong khi đó hợp đồng nhân viên không được giữ.

Xin cho hỏi công ty làm như thế có đúng luật không và em khiếu nại thì có được không?

Xin cảm ơn!

Người gửi: L.V.K

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

Công ty chi trả trợ cấp thôi việc có đúng luật không?

Tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý

-Bộ luật lao động 2012 

-Nghị định 95/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 

Nội dung phân tích

Về trợ cấp thôi việc

Điều 36 Bộ luật lao động 2012 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã."

Trừ trường hợp bị sa thải còn tất cả các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo điều 36 Bộ luật lao động 2012 đều được hưởng trợ cấp thôi việc. Bạn viết đơn xin nghỉ việc nên có thể rơi vào trường hợp theo khoản 3, tức là 2 bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng hoặc theo khoản 9, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu không chấm dứt trái luật thì bạn hoàn toàn có quyền được hưởng trợ cấp thôi việc. 

Điều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định về trợ cấp thôi việc như sau:

"1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."

Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết vấn đề này tại khoản 3, điều 14 như sau:

"3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc."

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn làm việc tại công ty làm từ 12/3/2007 nên thời gian làm việc được tính từ 12/3/2007 đến nay trừ đi thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp chính thức được áp dụng từ 1/1/2009 cho nên thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của bạn là khoảng thời gian từ 12/3/2007 đến hết năm 2008, tức là 1 năm 8 tháng 18 ngày. Theo quy định thời gian làm việc khi có tháng lẻ đối với người lao động làm việc trên 12 tháng được làm tròn như sau:

- Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng được tính bằng 6 tháng làm việc;

- Từ đủ 6 tháng đến 12 tháng được tính bằng 1 năm làm việc.

Như vậy, bạn có 2 năm làm việc để tính trợ cấp thôi việc, tương ứng với đó bạn sẽ nhận được 1 tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi thôi việc.

Công ty chỉ tính từ khi bắt đầu có hợp đồng và chỉ trả bạn nửa tháng tiền lương theo hợp đồng là vi phạm pháp luật. 

Với hành vi này, công ty có thể bị xử phạt hành chính theo điều 8, Nghị định 95/2013/NĐ-CP:

"1. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Lao động; không hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động cộng với khoản tiền tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt của số tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm đối với hành vi không trả hoặc trả không đầy đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động quy định tại Khoản 1 Điều này; [...]"

Về việc làm gần 1 năm công ty mới tiến hành giao kết hợp đồng.

Công ty đã vi phạm nghĩa vụ giao kết hợp đồng theo đó sẽ bị xử phạt theo điều 5, Nghị định 95/2013/NĐ-CP:

"1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

Mặt khác, sau khi ký hợp đồng, công ty giữ luôn mà không cho người lao động giữa là cũng vi phạm hình thức hợp đồng theo khoản 1, điều 16 Bộ luật này: "1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này."

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể gửi đơn đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động, thanh tra lao động. Nếu thấy vẫn chưa thỏa đáng, bạn có thể yêu cầu Hòa giải viên lao động, Tòa án giải quyết.

Riêng tranh chấp về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng bạn có thể khởi kiện trực tiếp tại Tòa mà không cần phải thông qua hòa giải.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.