Hôm sau em vào công ty làm việc nộp đầy đủ hồ sơ giấy tờ của bệnh viện xin nghỉ phép năm nhưng công ty vẫn không đồng ý cho nghỉ và bắt em phải viết giấy nghỉ không được sự chấp thuận, nghỉ không lương kèm theo biên bản kỷ luật ( Trong trường hợp này em sẽ bị trừ hết tiền phụ cấp như chuyên cần, nhà ở, xăng xe...) Vậy anh chị cho em hỏi công ty giải quyết như vậy có đúng luật lao động không ? Và trong trường hợp người lao động bị ốm đột xuất như vậy công ty vẫn không cho nghỉ là đúng hay sai ? Nếu sai em phải làm gì để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật lao động  của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật lao động gọi:  1900 6162

Trả lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 số 58/2014/QH13

Bộ luật Lao động của Quốc hội, số 10/2012/QH13

2. Nội dung tư vấn

Thứ nhất, việc bạn xin phép công ty cho nghỉ do bị đau bụng tiêu chảy trước 10 phút làm việc là đúng hay sai sẽ phụ thuộc vào hợp đồng lao động và nội quy lao động của bên công ty bạn, trong Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 không có quy định rõ về vấn đề này.

Thứ hai, việc bạn nộp hồ sơ, giấy tờ của bệnh viện để xin nghỉ phép năm là không đúng. Bởi chế độ nghỉ ốm đau là chế độ do Luật Bảo hiểm xã hội quy định; nghỉ hằng năm là do Bộ luật Lao động quy định khi bạn đáp ứng đủ điều kiện và mức hưởng hai chế độ này cũng có sự khác nhau. 

Điều 111 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

"1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.

3. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

4. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm."

Và Khoản 1 Điều 28 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: 

"1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 26, Điều 27 của Luật này thì mức hưởng tính theo tháng bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc" 

Theo những quy định trên thì khi bạn nghỉ hằng năm thì bạn sẽ được hưởng nguyên lương, còn khi bạn nghỉ chế độ ốm đau thì bạn chỉ được hưởng theo phần trăm mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Thứ ba, trong trường hợp này do bạn đã có văn bản xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền về việc nghỉ hưởng chế độ ốm đau do đó việc công ty lập biên bản kỷ luật bạn là trái với quy định pháp luật do:

Khoản 4 Điều 123 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định như sau: 

"4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này;

d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi."

Bạn bị ốm đau và phải nghỉ việc do đó việc công ty yêu cầu bạn viết giấy nghỉ không được sự chấp thuận, nghỉ không lương là không đúng. Nếu bạn đồng ý với những điều mà công ty bạn đưa ra thì trong trường hợp này việc hưởng các khoản phụ cấp của bạn như chuyên cần, nhà ở, xăng xe,.. sẽ phụ thuộc vào hợp đồng lao động và nội quy lao động bên công ty bạn.

Thứ tư, khi công ty có những hành vi trái quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của bạn, để bảo vệ quyền lợi của bạn thì bạn phải làm hồ sơ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nhà nước xem xét , giải quyết theo quy định của Điều 200 và Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012:

"Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật Lao động.