Tôi đã không được công ty trả lương 2 tháng nay mà không biết lý do và hiện tôi đang mang thai và chưa xin nghỉ thai sản.

Trường hợp 1: Nếu công ty cho tôi nghỉ với lý do không hoàn thành tốt công việc được giao nhưng không báo trước mặc dù tôi không phạm lỗi gì thì có trái pháp luật không?

Trường hợp 2: Nếu công ty cho tôi nghỉ với lý do mang thai nhưng không báo trước thì có trái pháp luật không? Tôi có quyền yêu cầu công ty thanh toán 2 tháng lương nợ và bồi thường 1 tháng lương thôi việc của cả 2 trường hợp trên không? - Nếu công ty không đồng ý trả tiền bồi thường thì tôi phải làm sao để giữ được quyền lợi của mình? - Trường hợp tôi thu công nợ và giữ lại số tiền tương ứng với 2 tháng lương và 1 tháng lương thôi việc mà công ty phải trả thì có vi phạm pháp luật không?

Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Chân thành cám ơn!

Người gửi: M.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê. 

 

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động 2012

- Bộ luật tố tụng dân sự 2004

- Bộ luật dân sự 2005

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về hành vi của công ty khi không ký hợp đồng lao động và không đóng bảo hiểm.

- Hợp đồng lao động: theo quy định tại điều 18, bộ luật lao động 2012 thì nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động như sau

"Điều 18. Nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động

1. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

2. Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; trường hợp này hợp đồng lao động có hiệu lực như giao kết với từng người.

Hợp đồng lao động do người được ủy quyền giao kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ thường trú, nghề nghiệp và chữ ký của từng người lao động."

- Bảo hiểm xã hội: theo quy định tại khoản 1, điều 18, luật bảo hiểm xã hôi thì

"Điều 18. Trách nhiệm của ngư­ời sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:

a) Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và hằng tháng trích từ tiền lư­ơng, tiền công của ng­ười lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội;

b) Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội của ng­ười lao động trong thời gian ngư­ời lao động làm việc;

c) Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm việc;

d) Lập hồ sơ để ng­ười lao động được cấp sổ, đóng và hư­ởng bảo hiểm xã hội;

đ) Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động;

e) Giới thiệu ngư­ời lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41, Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 55 của Luật này;

g) Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

h) Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của ngư­ời lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;

i) Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật."

Như vậy, hành vi không ký kết hợp đồng lao động cũng như không tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động của công ty bạn là hành vi vi phạm pháp luật lao động. Người lao động có quyền khiếu nại về những việc đó nếu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình. Ngoài ra, người lao động còn có thể khởi kiện ra tòa án theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Thứ hai, về vấn đề bạn thắc mắc.

Trường hợp 1: công ty cho nghỉ việc nhưng không báo trước.

Theo quy định tại điều 38, bộ luật lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Như vậy, công ty bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng việc chấm dứt hợp đồng mà không bảo trước là trái quy định của pháp luật. Dù công ty và bạn chưa ký hợp đồng lao động nhưng bạn đã làm việc ở công ty được 3 năm thì có thể coi là bạn đang làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn như định nghĩa về hợp đồng xác định thời hạn tại điểm b, khoản 1, điều 22, Bộ luật lao động. Do đo, theo điều 38 nêu trên thì công ty cũng ít nhất phải bảo trước cho bạn 30 ngày .

Trường hợp 2:

Căn cứ vào khoản 3, điều 155, bộ luật lao động thì :"Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động."

Nếu công ty bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn vì lý do mang thai thì đấy là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật theo quy định tại điều 41, BLLĐ và khi đó công ty có nghĩa vụ như sau:

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Nếu công ty không bồi thường cho bạn theo đúng quy định của pháp luật thì bạn có quyền khiếu nại giám đốc công ty và có thể khởi kiện tại tòa án theo quy định tại điểm b, khoản 1, điều 31, bộ luật tố tụng dân sự.

Bạn thu công nợ và giữ lại số tiền tương ứng với 2 tháng lương và 1 tháng lương thôi việc mà công ty phải trả thì hành vi đó của bạn là vi phạm pháp luật. Bởi lẽ:

Căn cứ vào 163, bộ luật dân sự 2005 thì số tiền mà bạn thu công nợ được xem là tài sản của công ty, công ty là chủ sở hữu của số tiền đó. Theo quy định tại 164, bộ luật dân sự thì công ty có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó. Do đó, nếu không được sự đồng ý của công ty mà bạn lấy số tiền đó thì bạn đã vi phạm quyền của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự.

Trên đây là toàn bộ phần tư vấn của chúng tôi cho thắc mắc của bạn, hi vọng sẽ giúp ích được cho bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng chúng tôi!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê