Tuy nhiên khi phát lương 10% doanh số của Công ty lại tính theo lợi nhuận. 1 đvsp bán ra doanh thu thu về là 60.000 10% doanh thu phải là 6.000 nhưng Công ty lại nói là: Trong 60.000 Công ty chỉ lời được 20.000, nên em sẽ nhận 10% của 20.000 là 2.000. Sau đó em có liên hệ khiếu nại thì Công ty lại nói là 10% doanh số. Công ty cũng diễn giải y như vậy. Em xin hỏi vấn đề này sẽ phải giải quyết như thế nào. Trong khi 1 tháng em mang về doanh thu 140.000.000. Công ty chỉ tính cho e 10% doanh số là 4.000.000. Mong Các Cô/Chú, Anh/Chị giúp em giải đáp thắc mắc là Công ty đã tính đúng, e hiểu sai hay có phát sinh vấn đề tiêu cực gì và cách giải quyết là như thế nào? 

Em xin trân trọng cảm ơn!.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý.

- Bộ luật lao động năm 2014

2.Nội dung tư vấn.

Đối với trường hợp của bạn chúng tôi nhận thấy theo như bạn cung cấp thông tin thì trong hợp đồng ký kết giữa bạn và Công ty là Lương cơ bản + Phụ cấp + 10% doanh số bán. Tuy nhiên khi trả lương Công ty lại trả lương theo một hình thức và tính khác. Vấn đề của bạn bây giờ phải căn cứ vào nội dung hợp đồng (có thể căn cứ cả phụ lục của hợp đồng) rằng số phụ cấp hưởng 10% được tính như thế nào, đối với thông tin bạn đã cung cấp chúng tôi tư vấn theo 2 hướng như sạu:

Thứ nhất, nếu Công ty chứng minh được rằng số doanh thu thu về là 60.000đ nhưng thực chất chỉ được hưởng 20.000đ (hoặc không có thỏa thuận khac) thì việc Công ty trả cho bạn 10%/20.00đ = 2.000đ là đúng theo như hợp đồng đã thỏa thuận.

 Thứ hai, nếu Công ty không thể chứng minh được rằng doanh thu thực chất chỉ được 20.000đ hoặc có thỏa thuận trong nội dung hợp đồng là doanh thu = 10% đúng giá trị của 1 đơn vị sản phẩm mà giờ Công ty trả lương không đúng theo hợp đồng thì bạn có thể lấy căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật lao động năm 2012.

Điều 37.Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động.

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

...................

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Ngoài ra nếu 2 bên không thể thỏa thuận được thì bạn có thể yêu cầu Hòa giải viên lao động HOẶC Tòa án giải quyết theo quy định về tranh chấp lao động cá nhân của luật này.

Điều  201.Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động của hòa giải viên lao đông.

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

.......................

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

.......................

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

LƯU Ý: Về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và được xác định kể từ thời điểm phát hiện quyền và lợi ích hợp pháp của bạn bị xâm phạm.

Điều 202.Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua EmailTư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư lao động.