Mong luật sư tư vấn!

Người gửi: N.T Hưng

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! vấn đề của bạn Luật Minh khuê xin được trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

Theo như bạn trình bày thì bạn và công ty đã kí HĐLĐ không các định thời hạn. Theo quy định tại Điều 22 BLLĐ 2012 thì hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

Mà ở đây, sau khi bạn làm việc được một thời gian thì công ty yêu cầu chấm dứt HĐLĐ. Vì bạn khong nêu rõ nguyên nhân tại sao công ty lại yêu cầu chấm dứt HĐLĐ nên chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, nếu như công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn dựa trên những căn cứ quy định tại Điều 38 BLLĐ thì việc chấm dứt HĐLĐ là đúng pháp luật. Cụ thể Điều 38 quy định như sau: 

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này....

Như vậy nếu có một trong các căn cứ nêu trên thì công ty có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Ngoài ra  khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với HĐLĐ không xác định thời hạn thì người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động trước ít nhất 45 ngày theo điểm a khoản 2 Điều 38 BLLĐ: "Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn". 

Thứ hai, nếu công ty chấm dứt HĐLĐ với bạn không có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 38 BLLĐ thì hành vi này của công ty là trái pháp luật. Hơn nữa tại Điều 39 BLLĐ còn quy định các trường hợp mà người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt HĐLĐ như sau:

Điều 39. Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật này.

4. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Hơn nữa bạn cũng cần xem xét về thời hạn báo trước của công ty đã phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 38 hay chưa . Đó là việc người sủ dụng lao động phải báo trước cho người lao động trước ít nhất là 45 ngày.

Vì vậy căn cứ vào những quy định trên đây , nếu công ty chấm dứt HĐLĐ với bạn trái pháp luật thì phải có nghĩa vụ quy định tại Điều 42 BLLĐ như sau:

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.