Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty chúng tôi! Vấn đề của bạn tôi xin được trả lời như sau:

Căn cứ pháp lí: Bộ luật lao động năm 2012

Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ

"...3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động..."

Theo đó thì đối với lao động nữ đang nghỉ thai sản pháp luật chỉ không cho phép người sử dụng lao động sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trường hợp này hợp đồng lao động bị chấm dứt vì lí do kinh tế theo quy định tại khoản điều 36 BLLĐ cụ thể là vì công ty bị phá sản do đó việc chấm dứt hợp đồng không trái quy định của pháp luật.

Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

"...2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này..."

Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Bạn kí hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ty nên theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 tại điều 2 bạn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có nghĩa trong thời gian 3 năm làm việc tại công ty bạn đã đóng bảo hiểm vì vậy khi nghỉ việc bạn không được công ty chi trả trợ cấp mất việc làm. Hay nói cách khác là bạn không được công ty bồi thường một khoản nào ngoài việc được công ty trả lại sổ bảo hiểm và các loại giấy tờ mà công ty đã giữ của bạn.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ  VẤN PHÁP LUẬT