Ngày 05/06/2018 em nhận được quyết định tuyển dụng và đi làm tại cơ quan mới (phòng nông nghiệp). Khi đi làm em có báo là đang nghỉ hậu sản. Đến ngày 25/6/2018 em được thông báo từ người phụ trách kế toán của phòng là tháng 06 nảy em không được nhận lương do chưa hết trợ cấp thai sản (thông tin này là do phòng nội vụ báo). Luật sư cho em hỏi như vậy có đúng hay không. Bây giờ em phải liên hệ với cơ quan nào để được giải đáp ?

Rất mong nhận được câu trả lời của luật sư. Chân thành cảm ơn luật sư.

Người gửi : Nguyễn Thị Như

 

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến Bộ phận Luật sư tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Sau khi được các Luật sư nghiên cứu, Chúng tôi xin đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật Bảo hiểm xã hội 2014

Luật lao động 2014

2. Nội dung tư vấn 

Cắn cứ Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định

Điều 39. Mức hưởng chế độ thai sản

1. Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 32, 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này thì mức hưởng chế độ thai sản được tính như sau:

a) Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật này là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội;

b) Mức hưởng một ngày đối với trường hợp quy định tại Điều 32 và khoản 2 Điều 34 của Luật này được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày;

c) Mức hưởng chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 33 và Điều 37 của Luật này thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày.

2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.

3. Bộ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội quy định chi tiết về điều kiện, thời gian, mức hưởng của các đối tượng quy định tại Điều 24 và khoản 1 Điều 31 của Luật này.

Và Điều 157 Bộ Luật lao động năm 2012 có quy định về nghỉ thai sản như sau:

“Điều 157. Nghỉ thai sản
 
1. Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng.
 
Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
 
Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.
 
2. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
 
3. Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động.
 
4. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng.
 
Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã”.
 
Như vậy, đối với trường hợp của bạn thì trong thời gian 6 tháng nghỉ thai sản thì đơn vị của bạn sẽ phải trả lương cho bạn. Đồng thời được hưởng trợ cấp thai sản theo quy đinh của pháp luật bảo hiểm xã hội. Trong thời gian bạn được nghỉ hưởng trợ cấp có đi làm thì đơn vị bạn có trách nhiệm phải chi trả tiền lương trong thời gian được nghỉ thai sản mà bạn vẫn đi làm. Và tùy mỗi một đơn vị sẽ có cách tính và chi trả lương khác nhau. Vì vậy, trong trường hợp của bạn, bạn nên thắc mắc điều này với đơn vị bạn làm việc để được giải thích rõ ràng nhất, có thể rằng do yêu cầu của đơn vị là khi chưa làm đủ tháng thì sẽ không được hưởng lương tháng đó. Còn theo đúng quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động vẫn phải chi trả lương cho người lao động khi người lao động làm việc.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê