Vì vậy từ ngày 1/9/2015 đến nay tôi gần như không có việc làm và xem như nghĩ phép không lương. Cho tôi hỏi

1. Nếu em không chấp nhận đi như vậy có vi phạm luật lao động không và đơn vị tự ý chuyển công tác của người lao động như vậy có đúng không? 2. Tôi đang là một người lao động bình thường tự nhiên lại mất việc như vậy. Nếu tôi làm đơn xin nghĩ phép không lương thì tôi sẽ được nghĩ mấy tháng?

Xin chân thành cảm ơn, Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

điều chuyển công tác không có sự đồng ý của người lao động\

Luật sư tư vấn pháp luật lao động: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012

II. Nội dung tư vấn:

Do bạn đang làm nhân viên thị trường cho đơn vị nhà nước, vậy bạn không phải là viên chức do đó luật áp dụng để giải quyết trường hợp của bạn là bộ luật lao động hiện hành.

1. Nếu em không chấp nhận đi như vậy có vi phạm luật lao động không và đơn vị tự ý chuyển công tác của người lao động như vậy có đúng không?

Qua những gì bạn trình " đơn vị tự chuyển công tác tôi qua khu vực xa khác" như vậy sẽ có hai trường hợp xảy ra:

  • Trường hợp thứ nhất: đơn vị chuyển công tác tới địa điểm khác và bạn vẫn làm công việc như trong hợp đồng lao động:

Đối với trường hợp này thì có sự thay đổi điều khoản " địa điểm" trong hợp đồng lao động nên việc thay đổi này sẽ phải do hai bên trong hợp đồng lao động thỏa thuận. Căn cứ vào điều 35 Bộ luật lao động 2012.

Điều 35. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động

1. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

2. Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.

3. Trong trường hợp hai bên không thoả thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết

Như vậy, muốn chuyển công tác của bạn tới địa điểm khác thì buộc cơ quan của bạn sẽ phải thỏa thuận với bạn. Và nếu không thể thỏa thuận được, tức bạn không đồng ý với phía cơ quan chuyển công tác bác thì cơ quan sẽ vẫn phải thực hiện tiếp hợp đồng lao động giữa bạn và cơ quan đã ký kết. Đối với trường hợp này, dù bạn không đồng ý mà cơ quan vẫn chuyển công tác đối với bạn thì như vậy thì không phù hợp với quy của pháp luật lao động hiện hành.

  • Trường hợp thứ hai: đơn vị chuyển bạn làm công việc khác so với hợp đồng lao động.

Đối với trường hợp này căn cứ vào khoản 1, điều 31 Bộ luật lao động 2012 thì:

Điều 31. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

Từ quy định trên thì cơ quan bạn chỉ có thể chuyển bạn khi trong trường hợp bất khả kháng hoặc nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, việc chuyển làm công việc khác này chỉ tạm thời. Nếu cơ quan bạn đang làm chuyển công tác bạn thuộc trường hợp này thì buộc bạn phải thực hiện. Và trong trường hợp này là cơ quan của bạn có quyền chuyển bạn làm công việc khác so với hợp đồng lao động

Trong trường hợp đơn vị không chuyển bạn tạm thời mà chuyển bạn hẳn bạn làm công việc khác với hợp đông thì buộc cơ quan của bạn sẽ phải thỏa thuận trước với bạn, và trường hợp này cũng sẽ thuộc trường hợp sửa đổi hợp đồng lao động được quy định điều 35 Bộ luật lao động 2012.

Điều 35. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động

1. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

2. Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.

3. Trong trường hợp hai bên không thoả thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết

Và trường hợp này, bạn không đồng ý với cơ quan về việc chuyển công tác của bạn thì không hề vi phạm quy định của pháp luật lao động và nếu bạn không đồng ý mà người sử dụng lao động vẫn chuyển công tác của bạn thì như vậy là trái với quy định tại điều 35 Bộ luật lao động 2012.

Vậy, đối với từng trường hợp cụ thể mới có thể khẳng định được việc không chấp nhận chuyển công tác của bạn có vi phạm luật lao động hay hành vi tự ý chuyển công tác của cơ quan bạn có đúng pháp luật hay không.

2. Tôi đang là một người lao động bình thường tự nhiên lại mất việc như vậy. Nếu tôi làm đơn xin nghỉ phép không lương thì tôi sẽ được nghỉ mấy tháng?

Căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 116 Bộ luật lao động 2012:

Điều 116. Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương

2. Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.

Theo quy định trên thì người lao động sẽ được nghỉ không hưởng lương 1 ngày trừ trường hợp giữa bạn và người sử dụng lao động có thỏa thuận khác. Tuy nhiên thì như bạn đã trình bày thì " từ ngày 1/9/2015 đến nay tôi gần như không có việc làm và xem như nghĩ phép không lương", tức ở đây đơn vị sử dụng bạn cũng coi bạn nghỉ là nghỉ phép không lương nên giữa hai bên cũng được coi là có thỏa thuận.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn luật lao động.