.Qua 2 lần ký kết loại hợp đồng lao động xác định thời hạn, đến ngày 28/01/2008 tôi ký hợp đồng với ông Giám đốc lần thứ ba, là loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Nhưng ngày 10/10/2014 ông Trần Hoàng Phúc, Giám đốc Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện Chợ Lách đã căn cứ Điều 36 Luật Lao động năm 2012 để ban hành Quyết định số 276/QĐ-TTVH-TT chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn đối với tôi với lý do: "vị trí công việc hiện tại tôi đang đảm nhận thời gian tới Trung tâm VHTT chưa có nhu cầu-kinh phí hoạt động của Trung tâm VHTT không thể đảm bảo chi trả cho họp đồng LĐ ngoài Biên Chế thời gian tới- đơn vị ko có quỹ tiền lương để chi trả cho HĐLĐ ngoài biên chế." Ngày 14/10/2014, tôi gửi đơn khiếu nại nội dung Quyết định số 276/QĐ-TTVH-TT, ông liền trả lời khiếu nại, ký tên, đóng dấu trực tiếp vào đơn khiếu nại và lập tức trả lại đơn cho tôi. Đến ngày 20/10/2014, ông tiếp tục trao cho tôi Quyết định số 290/QĐ-TTVH-TT về việc hủy bỏ Quyết định số 276/QĐ-TTVH-TT, ngày 10/10/2014 với lý do: Nội dung của Quyết định chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Xong, ông liền trao tiếp cho tôi Quyết định thôi việc thứ hai số 291/QĐ-TTVH-TT. Nội dung Quyết định thứ hai này hoàn toàn không khác với nội dung Quyết định thứ nhất. Chuyên môn của tôi đựơc đào tạo: Cử nhân Việt Nam học chuyên ngành hứơng dẫn viên Du Lịch (Loại Giỏi) - Trung cấp Âm nhạc chuyên ngành Biên đạo múa ( Lọai Giỏi). Xin hỏi Luật sư giám đốc chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn với tôi với lý do như vậy có đúng Luật ko? Vì sao? Và tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình?

Xin chân thành cảm ơn và trân trọng kính chào!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không thời hạn ?

Tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào thông tin bạn cung câp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012 ;

Nội dung:

Điều 36 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

"Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã."

Như vậy, với lý do: "vị trí công việc hiện tại bạn đang đảm nhận thời gian tới Trung tâm VHTT chưa có nhu cầu - kinh phí hoạt động của Trung tâm VHTT không thể đảm bảo chi trả cho họp đồng LĐ ngoài Biên Chế thời gian tới - đơn vị không có quỹ tiền lương để chi trả cho HĐLĐ ngoài biên chế." thì việc chấm dứt HĐ với bạn là đúng theo quy định của pháp luật.

Cần chú ý theo Khoản 2 Điều 38:

"2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;"

Căn cứ theo quy định của pháp luật:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm."

Căn cứ vào thông tin bạn cung cấp, sau khi chấm dứt hợp đồng lao động bạn được hưởng trợ cấp mất việc làm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động