Theo tôi được biết, hợp đồng có xác định thời hạn, thì người lao động phải báo trước với người sử dụng lao động ít nhất 30 ngày. Tuy nhiên, do hợp đồng của tôi đã hết hạn thì tôi có thuộc trường hợp đó không?

Thêm vào đó, công ty tôi hiện có điều luật khi sử dụng phép năm, mức lương được trả chỉ tính bằng mức lương cơ bản ( ghi chú rằng, hợp đồng lao động được kí trên lương cơ bản).

Nếu những trường hợp trên là sai, đâu là nơi tôi nên báo cáo để quyền lợi người lao động được bảo vệ một cách tốt nhất?

Xin cảm ơn!

Người gửi: Trọng Phan

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty Luật Minh Khuê. 

Hết hạn hợp đồng người lao động nghỉ có phải thông báo?

Tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý

Bộ luật lao động 2012 

Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động 2012. 

Nội dung phân tích

Về việc có phải báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động?

Điều 36 Bộ luật lao động 2012 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động bao gồm:

"1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã."

Trong trường hợp, người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ.

Như vậy, hết hạn hợp đồng lao động không phải trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, cho nên khi hết hạn hợp đồng người lao động không cần báo trước mà trách nhiệm này thuộc về người sử dụng lao động, cụ thể:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động."

Tuy nhiên, 2/5/2015 hợp đồng hết hạn mà đến 4/5 mới xin nghỉ và 3-5 ngày sau mới chính thức nghỉ. Theo quy định tại điều 22, Bộ luật lao động 2012 thì :

"1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn."

Trong trường hợp trên, bạn vẫn tiếp tục làm việc sau ngày hợp đồng lao động hết thời hạn, do đó hợp đồng bạn đã ký là hợp đồng xác định thời hạn đã trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Căn cứ khoản 3, Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012, khi chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn, bạn phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày để đảm bảo quyền lợi cho mình.

Về mức lương làm căn cứ tính phép năm

Khoản 3, 4, Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định như sau:

"3. Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm tại Điều 114 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

a) Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm. Đối với người lao động chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm vì các lý do khác là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm;

b) Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc.

4. Tiền lương tính trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm là tiền lương quy định tại Khoản 3 Điều này chia cho số ngày làm việc bình thường theo quy định của người sử dụng lao động của tháng trước liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động tính trả, nhân với số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm."

Như vậy, căn cứ tính phép năm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động, nếu trong hợp đồng lao động của bạn thỏa thuận là mức lương cơ bản thì đây cũng chính là căn cứ tính phép năm. Công ty làm như vậy là đúng luật.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi !

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động