1. Trường hợp người trên 80 tuổi, không thuộc hộ nghèo, đã được trợ cấp BHXH 1 lần thì có thuộc đối tượng đươc hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo luật người cao tuổi không ạ?

2. Trường hợp công nhân tụ tâp trước cổng nhà máy đòi tăng lương dẫn đến tranh chấp lao động. Để giải quyết nhanh chóng vụ việc, hòa giải viên đến và tiến hành giải quyết ngay lập tức. Như vậy có đúng không ạ?

3. Trường hợp anh A làm việc cho công ty đã lâu, nay vì lý do thu hẹp sản xuất nên anh A thuộc diện mất việc. Biết vậy anh đã xin được việc ở nơi khác và gửi đơn xin việc ở công ty kia. Trường hợp này anh được hưởng trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc như thế nào ạ ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: C.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn C.L, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

1. Người trên 80 tuổi, không thuộc diện hộ nghèo, đã hưởng BHXH 1 lần vẫn là đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Bởi:

- Khoản 2 Điều 17 Luật Người cao tuổi năm 2009 quy định về đối tượng được hưởng chính sách bảo trợ xã hội như sau: "Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng trợ cấp xã hội hằng tháng".

- Điểm b khoản 5 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội quy định như sau:

"5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng".

Cả 2 điều luật đều quy định người từ đủ 80 tuổi trở lên, không thuộc diện hộ nghèo, không có lương hưu/trợ cấp BHXH hàng tháng/trợ cấp xã hội hàng tháng thì được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của 2 văn bản này. 

Như trường hợp bạn đưa ra, người trên 80 tuổi đã hưởng BHXH 1 lần: BHXH 1 lần là chế độ người tham gia BHXH rút bảo hiểm xã hội 1 lần cho toàn bộ thời gian đóng BHXH khi có nhu cầu. BHXH 1 lần hoàn toàn khác với các chế độ trợ cấp BHXH hàng tháng hay trợ cấp xã hội hàng tháng mà 2 văn bản trên quy định. Do đó, người trên 80 tuổi, đã hưởng BHXH 1 lần vẫn là đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

2. Về việc hòa giải viên hòa giải tranh chấp lao động.

Hiện nay Bộ luật Lao động năm 2012 chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động, nhưng chúng ta có thể lấy thực tiễn để xác định một trình tự hòa giải tranh chấp lao động của hòa giải viên lao động như sau:

+ Thời hạn hoà giải là không quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hoà giải.

+ Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể cử đại diện dược uỷ quyền của họ tham gia phiên họp hoà giải.

- Hoà giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để 2 bên xem xét.

- Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành, có chữ ký của 2 bên tranh chấp, của hoà giải viên lao động. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành.

- Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành có chữ ký của bên tranh chấp có mặt, của hoà giải viên lao động.

- Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn một ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

Quy trình trên được tiến hành khi có đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động của một trong các bên có tranh chấp.

Trường hợp bạn đưa ra, chúng tôi cho rằng việc hòa giải viên lao động đến tại nơi xảy ra tranh chấp và hòa giải tranh chấp không có gì là trái với quy định của pháp luật cả, bởi trong trường hợp này, tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ là tự phát và các bên chưa có đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp thì rất khó để hòa giải viên lao động có thể tiến hành theo trình tự, phải mở phiên họp hòa giải.

3. Trường hợp của anh A mà bạn đặt ra: trường hợp này công ty rơi vào trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ/vì lý do kinh tế mà phải cho NLĐ nghỉ việc, nhưng khi công ty còn chưa có quyết định về việc cho NLĐ nghỉ việc thì anh A đã xin nghỉ việc, nên trường hợp của anh A rơi vào trường hợp thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ. Khi đó, anh A thuộc diện được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 BLLĐ 2012: " Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương".

Khoản 3 Điều 36 BLLĐ: "Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động".

Điều 48 BLLĐ quy định về cách tính hưởng trợ cấp thôi việc như sau: "Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc". Do vậy, thời gian anh A đã tham gia BHTN thì sẽ không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc. Nếu toàn bộ thời gian của HĐLĐ anh A đều tham gia BHTN thì anh A sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc từ phía công ty.

Mặt khác, để được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm 2013 thì NLĐ phải ở trong tình trạng thất nghiệp. Còn anh A sau khi chấm dứt HĐLĐ đã tìm được việc làm khác ngay thì anh A vừa không được hưởng trợ cấp thôi việc vừa không được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Về trợ cấp mất việc làm: chế độ này chỉ dành cho NLĐ bị chấm dứt HĐLĐ do công ty thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, rất mong giải đáp được thắc mắc của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao độn - Công ty luật Minh Khuê