Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

Hỏi về cách tính trợ cấp thôi việc?

Tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012 

Nghị định 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động 

2. Nội dung phân tích

Thứ nhất, về điều kiện hưởng.

Theo như thông tin bạn trình bày, bạn xin thôi việc kể từ ngày 1/1/2015 khi làm việc được 6 năm 2 tháng.

Bộ luật lao động 2012 có quy định về trợ cấp thôi việc như sau:

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc."

Như vậy, để được trợ cấp thôi việc thì bạn phái đáp ứng điều kiện :

- chấm dứt hợp đồng lao động vì một trong các lý do:

+ Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

+ Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

+ Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

+ Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

+ Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

+ Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

+ Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

+ Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

- có thời gian làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên.

Thứ hai, về cách tính. Khoản 1 điều 48 nêu rõ "mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương."

Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định tại điều 14 như sau: 

"3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc."

Xét trường hợp của bạn bạn thôi việc vào 1/1/2015 thôi việc khi bạn có 6 năm 2 tháng làm việc. Như vậy tức là bạn bắt đầu làm việc từ tháng 1/11/2008. Bảo hiểm thất nghiệp được áp dụng từ 1/1/2009 đối với người lao động  có hợp đồng lao động xác định thời hạn ít nhất từ đủ 12 tháng đến 36 tháng. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên tại các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, cơ quan tổ chức, cá nhân nước ngoài có sử dụng lao động là người VN. Bạn làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn (hoặc không xác định thời hạn) cho nên thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp, do đó, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là khoảng thời gian trước 1/1/2009. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là 2 tháng, cho nên rất tiếc bạn không đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thôi việc.

Nếu bạn làm công việc giúp việc gia đình hay đang được hưởng lương hưu thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, thời gian làm việc thực tế của bạn là 6 năm 2 tháng, được làm tròn thành 6,5 năm. Mỗi năm làm việc bạn được nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động tức là 6,5 năm bạn nhận được 3,25 tháng lương. Vì bạn không nói rõ tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi bạn nghỉ việc nên chúng tôi không thể tính cụ thể cho bạn được. Bạn có thể tham khảo các quy định trên của pháp luật.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. 

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê